Connect with us
Nội thất cao cấp Felicehome Quận 2

Kiến trúc

Xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu – Những vấn đề đặt ra?

(Vnexpress)

Published

on

(Tạp chí KTVN) – Theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia, sau khi đạt chuẩn nông thôn mới, các tỉnh, thành phố sẽ tiếp tục xây dựng tiêu chí để xét, công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, sau đó, sẽ lựa chọn, công nhận địa phương đạt nông thôn mới kiểu mẫu, tạo hình mẫu để các địa phương khác học tập. Tuy nhiên, trong thời gian qua, do chưa ban hành tiêu chí NTM kiểu mẫu, chưa có cơ sở để định lượng, đánh giá xã NTM kiểu mẫu, nên một số tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng, ban hành tiêu chí xã NTM kiểu mẫu, Khu dân cư NTM kiểu mẫu… Vì vậy, cần đặt ra tiêu chí nhất định, phát triển nhưng phải gắn với bảo tồn gìn giữ nét văn hóa dân tộc, đây cũng là vấn đề cốt lõi mà chương trình NTM mong muốn các địa phương phát triển một cách bền vững.

Trường Tiểu học và trung học cơ sở Long  Mỹ, Long Hồ, Vĩnh Long (ảnh : NTM)

Trường Tiểu học và trung học cơ sở Long Mỹ, Long Hồ, Vĩnh Long (ảnh : NTM)

KẾT QUẢ XÂY DỰNG NTM HIỆN NAY
Tính đến hết tháng 3/2018, cả nước đã có 3.289 xã đạt chuẩn NTM (chiếm khoảng 36,84% số xã), bình quân cả nước đạt 14,25 tiêu chí/xã; 49 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; cả nước còn 121 xã đạt dưới 05 tiêu chí. Đây là kết quả tất yếu của quá trình chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, là thành quả của phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM”.

Hơn 7 năm qua, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM đã làm cho bộ mặt nhiều vùng nông thôn khang trang, xanh, sạch, đẹp hơn. Hạ tầng thiết yếu về giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục… được quan tâm đầu tư, nâng cấp, xây dựng. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế và thu nhập cao. Số hộ nghèo giảm nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được cải thiện. Hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố.

Không dừng lại ở những thành tích đã đạt được, nhiều địa phương trong cả nước đã hết sức chủ động, sáng tạo, nâng cao chất lượng tiêu chí trong xây dựng NTM. Các tỉnh đã xây dựng ban hành tiêu chí và tổ chức thực hiện xây dựng xã NTM kiểu mẫu, khu dân cư NTM kiểu mẫu. Trong đó: Có 09 tỉnh, thành phố đã ban hành tiêu chí xã NTM kiểu mẫu, có 08 tỉnh, thành phố đã ban hành tiêu chí khu dân cư NTM kiểu mẫu. Đặc biệt, tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Ninh là 02 địa phương đã ban hành tiêu chí vườn mẫu và đang tổ chức triển khai thực hiện tiêu biểu.

Sau 3 năm triển khai, cả nước đã có 15 xã của tỉnh Đồng Nai được công nhận xã NTM kiểu mẫu; 260 khu dân cư đã được công nhận khu dân cư NTM kiểu mẫu (trong đó, Hà Tĩnh có 210 khu dân cư; Quảng Nam có 30 khu dân cư; Lào Cai có 20 khu dân cư); 2.300 vườn mẫu tại Hà Tĩnh đã được công nhận đạt chuẩn. Riêng Hà Tĩnh là tỉnh tổ chức triển khai rất bài bản, đồng bộ và sáng tạo, ngoài việc xét, công nhận khu dân cư NTM kiểu mẫu, vườn mẫu, vừa qua, Hà Tĩnh đã tổ chức cuộc thi trên phạm vi toàn tỉnh để tôn vinh, khen thưởng những khu dân cư NTM kiểu mẫu, vườn mẫu tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.

Nông thôn mới Bến Tre (ảnh: NTM)

Nông thôn mới Bến Tre (ảnh: NTM)

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG NTM KIỂU MẪU
Quan điểm chỉ đạo xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu ở các địa phương là coi trọng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và giá trị hưởng thụ tinh thần của người dân. Khu dân cư NTM kiểu mẫu phải có thu nhập bình quân đầu người, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng, an ninh trật tự, môi trường, văn hóa – xã hội… cao hơn so với khu dân cư đạt chuẩn NTM đã được công nhận.
Do đó, điểm chung trong tổ chức thực hiện và các địa phương đã lựa chọn được các vấn đề có tính chất điểm nhấn để định hướng thực hiện, trọng tâm là: Tập trung phát triển sản xuất, mở rộng phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của người dân; giữ gìn bản sắc văn hóa nông thôn truyền thống; đề cao vai trò tự quản của cộng đồng; tập trung cho các giải pháp trong bảo vệ môi trường, xây dựng cảnh quan, thực hiện nếp sống văn minh, ứng xử văn hóa, tiến bộ; thực hiện tốt công tác quản lý và bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội… Đây đều là những nội dung cốt lõi trong chỉ đạo xây dựng NTM của Ban Chỉ đạo Trung ương hiện nay.

Vấn đề đặt ra cho các địa phương hiện nay là: Quy hoạch khu dân cư, cảnh quan, khu vườn mẫu ra sao? Trồng các loại cây gì? Để đảm bảo yếu tố bền vững, tạo được phong trào rộng lớn cho cộng đồng, các vấn đề đều liên quan đến vùng miền, khí hậu, thổ nhưỡng. Đây là những đề tài khoa học, các địa phương cũng đang có sự trăn trở, cần mời các chuyên gia về xác định xem có thể trồng được cây gì, hoa gì. Mỗi địa phương có đề xuất, kiến nghị, yêu cầu riêng, đảm bảo tính kinh tế, phù hợp với địa hình khí hậu, và hơn thế nữa là phải phù hợp với phong tục tập quán. Không thể để tình trạng cứ trồng – nhổ – chặt, điển hình như một số địa phương. Có những địa phương không có nghiên cứu, không lấy ý kiến của các nhà khoa học, không tham khảo kinh nghiệm của các nước cũng sẽ thất bại. Không thể để tình trạng kêu gọi người dân thay vì xây hàng hàng rào để trồng cây và khi trồng cây rồi thì ai chăm sóc. Nhiều nơi họ đòi hỏi trồng cây phải gắn với hiệu quả kinh tế. Do đó trước mắt chỉ có thể khuyến cáo, bên cạnh đó Ban chỉ đạo cũng sẽ phải đưa ra các mô hình mẫu và trên cơ sở đó họ có thể so sánh, lựa chọn.
Xuất phát từ kết quả thực tiễn triển khai thành công xây dựng khu dân cư NTM kiểu mẫu tại 08 tỉnh, thành phố; xây dựng vườn mẫu tại 02 tỉnh. Chương trình đặt ra những mục tiêu cần giải quyết:

– Thứ nhất, cần làm rõ quan điểm công nhận khu dân cư NTM kiểu mẫu là một cộng đồng toàn diện, là hình mẫu ở tất cả các lĩnh vực, hay chỉ xét, công nhận hình mẫu ở một lĩnh vực thực sự nổi trội của khu dân cư đó, mà nơi khác chưa có.
– Thứ hai, đề xuất điều kiện, tiêu chí xét, công nhận khu dân cư NTM kiểu mẫu như thế là phù hợp. Như cách triển khai của 08 tỉnh, thành phố hiện nay, thì việc xét một khu dân cư đạt chuẩn NTM kiểu mẫu cơ bản dựa trên những nội dung trọng tâm trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM, chỉ khác biệt là đưa ra các định mức của các chỉ tiêu, tiêu chí cao hơn. Như vậy, thực chất là tiêu chí NTM nâng cao, hay NTM kiểu mẫu?

– Thứ ba, để triển khai xây dựng Khu dân cư NTM kiểu mẫu, thì vai trò của các Bộ, ngành, các địa phương là đến đâu? Có nên quy định các tiêu chí xác định khu dân cư NTM kiểu mẫu chung cho các vùng, miền, hay để từng tỉnh, thành phố quy định trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương?

– Thứ tư, về xây dựng vườn mẫu, hiện nay, cả nước có 02 tỉnh (Hà Tĩnh và Quảng Ninh) đã xây dựng tiêu chí xác định vườn mẫu và tổ chức triển khai thực hiện, và cũng mới chỉ có tỉnh Hà Tĩnh xét, công nhận được 2.300 vườn mẫu. Vậy, tiêu chí vườn mẫu do các địa phương trên quy định đã phù hợp chưa? Để triển khai ở các tỉnh, thành phố khác thì cần đưa ra nội dung, cách thức như thế nào?

Cầu treo khu An Lạc 1, Xuân An, Yên Lập, Phú Thọ (ảnh: NTM)

Cầu treo khu An Lạc 1, Xuân An, Yên Lập, Phú Thọ (ảnh: NTM)

XÂY DỰNG NTM KIỂU MẪU CẦN BẢO TỒN VÀ TÔN TẠO GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG
Định hướng trong những bước tiếp theo của Ban chỉ đạo sẽ xây dựng xã, huyện NTM kiểu mẫu. Phải đưa ra được những quy định về khu dân cư kiểu mẫu, cảnh quan, vườn mẫu giúp cho cộng đồng một cách khoa học, không nên tùy tiện làm theo ý thích cá nhân mà cần phải được sự chấp thuận của cả cộng đồng.

Hiện nay có rất nhiều xã, nhiều địa phương ở vùng khó khăn, nếu làm NTM ở cấp xã đòi hỏi nguồn lực rất lớn, rất lâu mới đạt được chuẩn, bởi vậy có thể lựa chọn khu dân cư, hay nói rộng hơn là cấp thôn, cấp bản, để tạo ra những chuyển biến trước mắt về cảnh quan, môi trường, nhận thức… không đòi hỏi nhiều kinh phí, góp phần thay đổi bộ mặt, không thể thực hiện trên bình diện toàn xã hay toàn huyện.

Vấn đề đặt ra: Làng và cảnh quan của nông thôn ở Việt Nam hiện nay rất đẹp và nguyên bản, có một số địa phương phát triển, tôn tạo làng thành mô hình điển hình, trở thành nơi đáng sống. Để có được những mô hình làng xanh – sạch – đẹp đó họ đang phải bỏ rất nhiều công sức, họ cũng cần phải có lợi ích, động lực để có kinh phí duy tu, bảo dưỡng hoặc thay thế chuyển đổi theo mùa vụ. Do đó, cần làm sao nhân rộng được các mô hình, tiếp theo là duy trì được sự bền vững và bảo tồn được nét đặc sắc văn hóa của các làng, hơn thế nữa tận dụng được những lợi thế để gắn với tuyến du lịch.

Vấn đề kiến trúc, cảnh quan hiện nay cần có một xu hướng nên duy trì, đó là quay trở về bản sắc xưa, những giá trị truyền thống, bên cạnh những đô thị ồn ã, ô nhiễm, khô cứng thì khi đi về nông thôn, mỗi vùng có một đặc trưng riêng giúp cho ta cảm thấy có sự cân bằng được cuộc sống.

Khu dân cư kiểu mẫu của Hà Tĩnh đã toát lên được 03 nội hàm mà hiện nay đang lấy là trọng tâm của chương trình NTM. Thứ nhất là vấn đề thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, thay vì để hoang khu vườn, với sự hỗ trợ của nhà nước, có thể trồng thêm một số cây tạo ra giá trị kinh tế. Thứ hai là vấn đề môi trường và cảnh quan. Khi làm một khu dân cư với khu vườn mẫu là đã tạo ra cảnh quan, nâng cao ý thức của người dân về sạch, đẹp. Đối với những nơi thời tiết khắc nghiệt, những khu vườn đó sẽ tạo ra được bóng mát, màu xanh, giảm sự khốc liệt của thời tiết. Thứ ba là gắn với văn hoá, khi hình thành được các khu dân cư, khu vườn kiểu mẫu là đã khôi phục được văn hoá. Tuy nhiên mới chỉ ở cấp cộng đồng, khác với quy mô cấp liên xã, liên huyện mà các tập đoàn đang triển khai sản xuất.

Ban chỉ đạo Trung ương cũng đánh giá cao về vấn đề triển khai điển hình khu dân cư, vườn mẫu chính là đã xác định được người dân làm chủ thể, từ đó nâng cao ý thức người dân, tạo ra được tinh thần cộng đồng. Từ đó sẽ góp phần xây dựng NTM bền vững, vì chúng ta đi vào những nội dung rất cụ thể, chi tiết ở cấp hộ gia đình và cộng đồng dân cư. Như vậy, với việc thúc đẩy phát triển khu dân cư kiểu mẫu, vườn mẫu vừa tác động trực tiếp đến 03 nội dung trọng tâm của chương trình NTM, vừa phát huy được nguyên tắc cốt lõi của thành công của chương trình NTM – đó là vai trò chủ thể của người dân; Phát động được tính cộng đồng, làng xóm gắn kết với nhau trong chương trình xây dựng NTM; Ý thức của người dân chuyển từ tự phát sang tự giác, từ việc chỉ lo cho nhà mình sang lo cho cộng đồng, đó là cái chuyển biến căn bản để xác định thực sự NTM có bền vững hay không. Trên cơ sở đó, hiện nay, cần thiết tổ chức Hội nghị toàn quốc nhằm chia sẻ kinh nghiệm của các tỉnh đã thực hiện thành công để nhân rộng trên cả nước. /.

Mục tiêu đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn NTM khoảng 50% (trong đó, mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 28%; Đồng bằng sông Hồng: 80%; Bắc Trung Bộ: 59%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 60%; Tây Nguyên 43%; Đông Nam Bộ: 80%; Đồng bằng sông Cửu Long: 51%); Khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất 01 huyện đạt chuẩn NTM; bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã (trong đó, mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 13,8; Đồng bằng sông Hồng: 18,0; Bắc Trung Bộ: 16,5; Duyên hải Nam Trung Bộ: 16,5; Tây Nguyên: 15,2; Đông Nam Bộ: 17,5; Đồng bằng sông Cửu Long: 16,6); cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí;Hiện nay đã có 09 tỉnh, thành phố đã ban hành tiêu chí xã NTM kiểu mẫu (gồm: Đồng Nai, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Ninh, Quảng Nam, TP. Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Ninh Bình, Quảng Trị). Có 08 tỉnh, thành phố đã ban hành tiêu chí khu dân cư NTM kiểu mẫu (gồm: Hà Tĩnh, Quảng Ninh, Quảng Nam, Thái Nguyên, Thanh Hóa, TP. Hồ Chí Minh, Lào Cai, Quảng Ngãi). 02 tỉnh ban hành tiêu chí vườn mẫu (Hà Tĩnh, Quảng Ninh).

NGUYỄN MINH TIẾN  |  CỤC TRƯỞNG – CHÁNH VĂN PHÒNG NTM TW

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement
Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Kiến trúc

Vỡ lở vụ hối lộ: Đường sắt đô thị số 1 Hà Nội dừng đến bao giờ?

(Vnexpress)

Published

on

Tuyến đường sắt đô thị đầu tiên sẽ lăn bánh tại Hà Nội vào đầu năm tới (2019) là tuyến 2A (Hà Đông – Cát Linh). Nếu theo trật tự thì phải là tuyến số 1 (Yên Viên, ga Hà Nội – Ngọc Hồi), dù được ưu tiên đầu tư đầu tiên nhưng đã tạm dừng từ 2014… và không biết bao giờ mới chạy.

Bỏ lại đoạn đường cần ưu tiên và kỹ thuật phức tạp nhất

Dự án tuyến Đường sắt đô thị số 1 (Yên Viên, ga Hà Nội – Ngọc Hồi) đã tạm dừng từ 2014, sau sự việc Công ty tư vấn JTC Nhật Bản hối lộ và nhiều quan chức ngành đường sắt “nhúng chàm”.

Dự án khởi động năm 2008, tổng mức đầu tư đã tăng từ hơn 9.000 tỷ lên hơn 44.000 tỷ đồng (đây mới là dự tính, chưa phải số cuối cùng). Đến nay, dù chưa có mét đường nào thi công, nhưng Việt Nam đã phải thanh toán cho tư vấn nước ngoài hơn 850 tỷ đồng, trong khi phân đoạn cấp thiết nhất, có kỹ thuật phức tạp nhất là từ ga Hà Nội vượt sông Hồng sang tới ga Gia Lâm lại bị tách ra, bỏ lại không rõ khi nào sẽ tiếp tục.

Phương án ĐSĐT đã tạm dừng năm 2014: Hạn chế của việc tách rời các dự án đầu tư tốn kém và không hỗ trợ lẫn nhau. ĐSĐT trên cao đi bên cạnh ĐSQG, cả hai tuyến đường sắt vẫn cản trở đường bộ trong phố và không hỗ trợ bảo tồn cầu Long Biên - Nguồn: Hanoidata ST&BT

Phương án ĐSĐT đã tạm dừng năm 2014: Hạn chế của việc tách rời các dự án đầu tư tốn kém và không hỗ trợ lẫn nhau. ĐSĐT trên cao đi bên cạnh ĐSQG, cả hai tuyến đường sắt vẫn cản trở đường bộ trong phố và không hỗ trợ bảo tồn cầu Long Biên – Nguồn: Hanoidata ST&BT

Hà Nội không phải thành phố duy nhất gặp trắc trở với các dự án nhập khẩu đường sắt đô thị. Chậm trễ nhất là thành phố Jakarta (Indonesia) khởi động từ những năm 1980 nhưng trở ngại do quản lý và tài chính, đến tận 2012, tuyến đầu tiên trị giá 1,5 tỷ USD mới tái khởi động. Hy vọng tới năm 2019, đoàn tàu đô thị đầu tiên lăn bánh sau gần 40 năm trông đợi.

Nhanh nhất nhưng hiệu quả thấp là Manila (Philippines) – thành phố lập kế hoạch phát triển đường sắt đô thị từ 1970, trước hệ thống Singapore, đến 1984 đã hoàn thành 28,8 km đầu tiên. Vay hàng tỷ USD để nhập khẩu tàu trên cao chạy nhanh nhưng hơn 30 năm qua, Manila đi lại vẫn chậm chạp bởi tắc nghẽn giao thông. Đến năm 2017, Manila tiếp tục đàm phán với Nhật Bản để vay tiếp 7 tỷ USD làm thêm các tuyến đường sắt đô thị mới.

Không phụ thuộc tài chính kỹ thuật, tăng tốc đầu tư

Năm 1997, thành phố Kuala Lumpur (Malaysia) đã tiếp quản dự án do Hitachi (Nhật bản) bỏ dở. Các nhà thầu nội địa đã đầu tư 310 triệu USD để hoàn thành tuyến Monorail dài 8,5km vào vào năm 2003. Do đi xuyên qua trung tâm thành phố đông đúc nên năng lực vận chuyển tăng nhanh, từ 34.000 khách/ngày (2003) lên 63.778 khách/ngày (2017). Các dự án giao thông hiện đại của Kuala Lumpur không chỉ giải cứu ách tắc giao thông mà còn nâng cao độ kỹ thuật cho nguồn nhân lực nội địa.

Năm 2007, các kỹ sư và công nhân Malaysia đã khiến thế giới ngưỡng mộ bởi thành công của dự án SMART TUNNEL, đường ống ngầm bê tông ngầm đa nhiệm, giải cứu ách tắc giao thông kết hợp chống ngập cho trung tâm Thành phố.

Đến 2018,  Kula Lumpur đã hoàn thành 16 tuyến đường sắt đô thị đi qua 177 nhà ga, kết hợp các phương tiện công cộng khác đáp ứng gần 200 triệu cuộc di chuyển/ngày.

Thủ đô Bangkok (Thái Lan) mở tuyến tàu điện ngầm đầu tiên dài 21 km qua 19 ga năm 2004. Tuyến thứ hai dài 23 km qua 16 ga hoạt động từ 2016, năng lực hai tuyến gần 1 triệu hành khách/ngày.

Hệ thống đường sắt đô thị Bangkok mới có 111,14 km, nhưng đến 2020 sẽ nối thêm 181,34 km để có gần 300 km lăn bánh. Hệ thống đường sắt đô thị không chỉ cải thiện giao thông mà còn tạo hành lang phát triển kinh tế cho các tỉnh Đông Bắc. Giai đoạn 2010-2020, nhờ nguồn đầu tư 17 tỷ USD cho đường sắt đô thị của Chính phủ đã tạo thành động lực tăng trưởng mạnh mẽ của các tập đoàn tài chính, xây dựng, sản xuất vật liệu, công kỹ nghệ hiện đại trong nước. Thị trường vốn nội địa vững chắc đi cùng với làn sóng phát triển công nghệ số trong toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội.

Những bài học trên cho thấy có nhiều loại đường sắt đô thị khác nhau có thể giải cứu ách tắc giao thông và có nhiều cách khác nhau để xây dựng nó

Đường sắt cũ với những con tàu hiện đại

Đường sắt đô thị Paris (Pháp) có lịch sử phát triển lâu đời, nhưng sau thế chiến II đã bị xuống cấp hư hỏng nặng nề do sử dụng nhiều lại không được bảo trì tốt. Nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông tăng nhanh, trong khi lại tận dụng cơ sở hạ tầng cũ, đã xuất hiện và được sử dụng tại Line số 11 từ năm 1950 loại tàu bánh sắt có sự hỗ trợ của bánh lốp “Métro-sur-pneumatiques” (gọi tắt là MP).

Tàu điện bánh hơi từ năm 1950 và phát triển cho đến ngày nay đang chạy qua các khu phố lịch sử, cây cầu cổ kính bắc qua sông Seine (Paris - Pháp)

Tàu điện bánh hơi từ năm 1950 và phát triển cho đến ngày nay đang chạy qua các khu phố lịch sử, cây cầu cổ kính bắc qua sông Seine (Paris – Pháp)

Thách thức của Paris đã trải qua có nhiều điểm tương đồng  với Hà Nội hiện nay. Loại hình này đã phát triển liên tục và đa dạng hóa, có mặt tại 31 thành phố của 11 quốc gia và vùng lãnh thổ: Canada, Chile, Trung Quốc, Mỹ, Ý, Pháp, Hàn Quốc, Mexico, Thụy sĩ, Singapore, Đài Loan.

Nên chăng, Hà Nội khai thông bế tắc của dự án đường sắt đô thị số 1 bằng cách lập tuyến tàu nhẹ chạy nhanh 2 chiều đoạn từ ga Hà Nội tới ga Gia Lâm, dài 6km, có sẵn đường, cầu, lại có hai ga rộng 20 ha. Bằng loại tàu này có thể đạt năng lực vận chuyển 5.000-10.000 hành khách/giờ.

Đầu tư cho tuyến này khoảng vài trăm triệu USD bao gồm tàu, đường, ga trên cao và cả gia cố phục hồi toàn bộ cầu Long Biên. Nguồn vốn có thể huy động từ trong nước bằng việc bán 300 cửa hàng dọc phố Phùng Hưng, nhượng quyền khai thác dịch vụ vận chuyển của tuyến có nhu cầu cao và khai thác không gian dịch vụ không gian lớn của 2 ga đầu cuối,… Có vô số nguồn lợi rõ ràng hấp dẫn, doanh nhân tháo vát sẽ nhận ra ngay, đầu tư ngay mà chẳng cần phải đợi.

Cầu chui qua phố Cửa Đông trên đường Phùng Hưng trước 1954, các vòm cầu đã còn để rỗng; Phương án do CitySolution đề xuất 2018: gia cường kết cấu, tích hợp ĐSQG và ĐSĐT trên cùng tuyến với phương án 2 tầng, 3 tầng và cả đường đi bộ - du lịch  trên cao. Nguồn: Hanoidata

Cầu chui qua phố Cửa Đông trên đường Phùng Hưng trước 1954, các vòm cầu đã còn để rỗng; Phương án do CitySolution đề xuất 2018: gia cường kết cấu, tích hợp ĐSQG và ĐSĐT trên cùng tuyến với phương án 2 tầng, 3 tầng và cả đường đi bộ – du lịch trên cao. Nguồn: Hanoidata

Từ ngày 27/10/2008 , thành phố Lausanne (Thụy sĩ) đã đưa vào vận hành “Metro Lausanne M2” với 15 tàu đã chở 51.000 hành khách/ngày, ngay trong ngày đầu tiên và tăng lên gấp đôi, đến 105.000 người/ngày (2010). Năm 2017 có 30.112 triệu hành khách đi qua tuyến dài 5,9Km, có 14 ga (trung bình 400 m/ga), kết nối với khu phố cổ bằng các cầu đi bộ trên cao.

Tàu model MP 89 CA dài 30,6m, có 6 cửa, chở được 220 người, có 60 chỗ ngồi (tối đa tải trọng có thể chở 315-351 hành khách). Tốc độ tối đa 60km/h. Buồng lái tự động và bảng điều khiển bằng tay. “Metro Lausanne M2” đi qua các địa hình phức tạp, độ dốc 12% và quanh co qua các khu phố cổ.

KTS Trần Huy Ánh/Vietnamnet

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn trong tích tụ ruộng đất

(Vnexpress)

Published

on

Theo TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, đã đến lúc phải thực hiện tích tụ ruộng đất.

Sáng 22/11, Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã tổ chức hội thảo “Quyền và lợi ích của hộ nông dân trong tích tụ và tập trung ruộng đất”. Đây là dịp để các đại biểu chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình triển khai cũng như bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tích tụ ruộng đất.

Tháo gỡ khó khăn trong tích tụ ruộng đất. Ảnh: Thành Trung/BNEWS/TTXVN

Tháo gỡ khó khăn trong tích tụ ruộng đất. Ảnh: Thành Trung/BNEWS/TTXVN

Theo TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, đã đến lúc phải thực hiện tích tụ ruộng đất, từ đó thúc đẩy tái cơ cấu, tổ chức sản xuất theo hướng quy mô hơn, hiện đại hơn, thông minh hơn…Từ đó, tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Theo nghiên cứu, các hộ nông dân có nhu cầu chuyển nhượng đất rất cao, bởi họ muốn chuyển nhượng đất để có tiền đầu tư việc khác mang lại thu nhập cao hơn; họ không có nhu cầu sử dụng đất nữa và chuyển sang ngành nghề khác. Tuy nhiên, nhu cầu nhận chuyển nhượng đất lại thấp vì có nhiều ràng buộc. Đặc biệt, hạn chế người có nhu cầu nhận chuyển nhượng đất quy mô lớn; quy mô nhận chuyển nhượng và thời hạn sử dụng cũng bị hạn chế.

TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng, cần phải có các giải pháp để thúc đẩy tích tụ ruộng đất và điều đầu tiên, phải linh hoạt trong việc quản lý mục đích sử dụng đất, và có thể thu hẹp diện tích các loại đất. Cũng không nên áp dụng hạn điền mà thay vào đó là tính thuế. “Đây là việc mà tôi cho rằng cần thay đổi” – ông Cung nhấn mạnh.

Theo ông Cung, khi nông dân chuyển nhượng đất thì họ phải chuyển đổi được ngành nghề để tạo sinh kế mới và có thu nhập lâu dài hơn. Rõ ràng, việc phát triển các ngành nghề ngoài nông nghiệp cũng là một vấn đề cần quan tâm. Vì vậy, để thu hút lực lượng lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp thì phải phát triển mạnh hơn các lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ, du lịch… Đồng thời, phải đào tạo, hướng dẫn nông dân chuyển đổi nghề nghiệp, nghĩa là phải tiếp cận một cách tổng thể.

Ông Nguyễn Hữu Thọ, Phó ban phụ trách, Ban Chính sách Phát triển nông thôn (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương) cho hay, khảo sát tại 3 địa phương thực hiện tích tụ ruộng đất là Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình cho thấy, quy mô tích tụ chủ yếu là 2 ha, cá biệt có hộ mua tới 15 ha. Hiện có 4 hình thức tích tụ gồm: hộ nông dân tự thuê đất của nhau; doanh nghiệp tự thuê đất của hộ nông dân theo cơ chế thị trường; doanh nghiệp thuê đất của hộ dân thông qua chính quyền; hợp tác xã làm đầu mối trung gian cho các hộ thuê đất của nhau.

Khảo sát cũng cho thấy, lợi ích của các hộ chuyển nhượng (bán ruộng) có thời gian làm việc khác, có tiền làm việc khác, bớt các khoản nộp theo đầu sào… Tuy nhiên các hộ này cũng lo lắng từ việc bán đất vì sợ sử dụng tiền bán đất không hiệu quả; không còn tài sản cho con cháu…

Đối với hộ mua ruộng thì sẽ có thêm đất dể mở rộng sản xuất; có cơ hội khi đất lên giá, thêm tài sản… Lợi ích trước mắt, lãi sẽ tăng thêm từ 2,2 – 7,5 triệu đồng/ha. Về lâu dài, cần chuyển từ hộ gia đình sang doanh nghiệp; thay đổi cách làm ăn từ nhỏ lẻ, sang quy mô lớn và chuyên nghiệp. Tuy nhiên, các hộ này cũng lo lắng về việc càng làm nhiều càng lỗ. Khi bị thu hồi giá bồi thường thấp, bán đất giá thấp sẽ bị lỗ.

Ông Thọ cũng đề xuất các giải pháp như điều chỉnh lại cách thức lập quy hoạch và nội dung quy hoạch nhằm phân cấp quản lý nhiều hơn cho chính quyền cấp tỉnh và huyện; tăng tính linh hoạt trong việc ra quyết định lựa chọn mục đích sử dụng đất nông nghiệp.

Bên cạnh đó, kiến nghị bỏ quy định về thời hạn sử dụng đất đối với đất nông nghiệp để giao hoặc cho thuê sử dụng ổn định lâu dài giống như đất phi nông nghiệp. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc xử lý những tình huống quan trọng thì cần bổ sung thêm các trường hợp được thu hồi đất nông nghiệp.

Đồng thời, cho phép các tổ chức kinh tế, hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp được phép nhận chuyển nhượng có điều kiện quyền sử dụng đất trồng lúa. Tuỳ từng giai đoạn Nhà nước sẽ đặt ra các tiêu chí, điều kiện đối với doanh nghiệp khi muốn nhận quyền sử dụng đất lúa…

Theo ông Nguyễn Văn Vương, Phó trưởng phòng, Phòng Cây lương thực và cây thực phẩm, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), việc tích tụ ruộng nhất nhằm mở rộng quy mô sản xuất, giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Nhưng, diện tích đất hiện còn manh mún, khó khăn đầu tư cơ giới hoá vào sản xuất.

Hiện nay, các hình thức tập trung ruộng đất vẫn theo hướng thành lập hợp tác xã, nhưng vẫn theo nền của hợp tác xã cũ nên còn nhiều hạn chế, khó phát triển. Đặc biệt là người đứng đầu các hợp tác xã. Thực tế, cũng có nhiều doanh nghiệp đang thực hiện đúng hướng trong việc tập trung đất đai để sản xuất theo quy mô lớn.

“Quan trọng nhất là phải phát triển được các lĩnh vực khác như công nghiệp, dịch vụ, du lịch… để thu hút lực lượng lao động nông thôn rời khỏi lĩnh vực nông nghiệp. Từ đó mới có nhiều điều kiện để quá trình tích tụ ruộng đất phát triển” – ông Vương nói./.

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Bảo tồn chợ truyền thống trong nội đô

(Vnexpress)

Published

on

Dù vẫn đang trong giai đoạn đô thị hóa mạnh, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, TP vẫn phải bảo tồn và duy trì các chợ truyền thống trong nội đô như một nét văn hóa ngàn năm của Hà Nội cổ kính.

Năm 2009, TP Hà Nội chủ trương thí điểm chuyển đổi một số mô hình từ chợ truyền thống thành các trung tâm thương mại (TTTM) kết hợp với chợ. Trong khoảng 8 năm đã hình thành các TTTM thay thế các khu vực chợ cũ như: TTTM Chợ Mơ, TTTM Chợ Hàng Da, TTTM Chợ 19/12… các TTTM được thiết kế chia thành 2 phần: Phần nổi là không gian cho TTTM và phần ngầm (tầng hầm) dùng để các tiểu thương kinh doanh các mặt hàng theo mô hình chợ.

Chợ Đồng Xuân với hơn 200 năm tồn tại đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Ảnh: Doãn Thành

Chợ Đồng Xuân với hơn 200 năm tồn tại đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Ảnh: Doãn Thành

Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, đánh giá kết quả thực hiện, đến năm 2017 TP đã quyết định dừng các dự án TTTM kết hợp chợ, do mô hình không mang lại hiệu quả cho các tiểu thương và người dân buôn bán tại chợ.

Lý giải về lý do này, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Đồng Xuân Vũ Hà Thanh cho biết, trên 75% người dân Việt Nam có thói quen đi chợ truyền thống, chợ truyền thống của người Việt phần lớn đều giáp với mặt đường lớn, thậm chí các chợ cóc, chợ củi còn nằm ngay bên lề đường, người dân chỉ cần tạt xe vào là có thể mua bán được. Nên khi các TTTM được xây dựng kết hợp với mô hình chợ dưới tầng hầm, người dân có xu thế ngại gửi xe để đi bộ xuống hầm, chưa kể vấn đề việc gửi xe ở các TTTM cũng phức tạp, đôi khi phải đi lòng vòng, lạc đường… Vì thế khi các chợ được mở dưới tầng hầm của TTTM, người dân không còn mặn mà nữa, dẫn đến tình trạng hoạt động kinh doanh theo mô hình này không hiệu quả.

Đánh giá về việc thay đổi mô hình kinh doanh từ chợ truyền thống sang TTTM kết hợp chợ, ông Vũ Hà Thanh cho rằng, nếu tính về giá trị sử dụng, các TTTM có thể khai thác được nhiều hơn các chợ truyền thống, khi vừa có thể cho thuê văn phòng, buôn bán, một số TTTM còn khai thác thêm cả căn hộ chung cư. Ngoài ra, việc buôn bán tại các TTTM thì có thể dễ dàng quản lý được nguồn gốc hàng hóa.

“Nhưng trên thực tế, đối với Hà Nội việc bảo tồn và duy trì một số chợ truyền thống không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn về giá trị văn hóa, lịch sử. Nhiều đô thị lớn trên thế giới họ vẫn giữ các chợ truyền thống trong khu vực nội đô” – ông Vũ Hà Thanh nói.
Cùng quan điểm, KTS Trần Huy Ánh – Ủy viên Thường vụ Hội KTS Hà Nội cho biết, trong lịch sử phát triển của Thủ đô Hà Nội, chợ chính là nền tảng cho quá trình đô thị hóa, chợ truyền thống đóng một vai trò hết sức quan trọng trong lưu thông, trao đổi hàng hóa, phù hợp với nhu cầu phát triển qua các thời kỳ của người dân Thủ đô. Bởi vậy, có những tên chợ khi nhắc đến là người ta có thể nhận diện ngay ra đó là sản phẩm của Hà Nội.

“Du khách đến phố cổ muốn mua sắm, họ mặc định đi lên phố Đồng Xuân, thì bắt buộc chợ Đồng Xuân phải nằm ở đó và nó phải đúng là một cái “chợ”. Chính nét đặc trưng riêng của từng chợ đã thu hút sự tò mò, thích khám phá, tìm hiểu của du khách, nếu đến đó mà thấy một tòa nhà TTTM thì họ sẽ thất vọng và không có nhu cầu tìm hiểu, khám phá nữa, vì TTTM nào cũng na ná như nhau” – KTS Trần Huy Ánh nói.

Đa dạng loại hình kinh doanh

Sau gần 10 năm kinh doanh buôn bán tại chợ Đồng Xuân, chị Phạm Lệ Quyên chia sẻ, thời gian gần đây các kiot bán hàng phía mặt tiền phố Đồng Xuân đã được bố trí, sắp xếp lại, chủ yếu buôn bán các loại mặt hàng phục vụ khách du lịch. Thu nhập từ bán lẻ cũng tương đối ổn định, vì lượng khách du lịch đến chợ rất đông. Hiện nay, nhiều tiểu thương trong chợ đã quen với mô hình kinh doanh kết hợp khai thác thương mại từ khách du lịch.

Khảo sát thực tế tại chợ Đồng Xuân và một số chợ truyền thống tại khu vực nội của Hà Nội, đa phần các tiểu thương và người buôn bán nhỏ đã thay đổi mô hình kinh doanh để đáp ứng với nhu cầu thực tế. Ví như ở chợ Đồng Xuân, doanh thu bán hàng đạt trên 100 tỷ đồng/tháng, lượng hàng hóa thực phẩm các loại luân chuyển qua chợ từ 10 – 20 tấn/ngày, nhưng chợ đã được bố trí thành những khu vực riêng để có thể vừa kinh doanh, vừa khai thác hoạt động du lịch, khách du lịch có thăm quan kết hợp mua sắm, ăn uống tại chợ.

Đại diện Công ty CP Đồng Xuân (đơn vị quản lý chợ Đồng Xuân) cho biết, sự thay đổi rõ rệt nhất của chợ Đồng Xuân chính là cách thức tiếp cận khách hàng. Nếu trước đây, tiểu thương chợ Đồng Xuân không bán lẻ thì hiện nay, các quầy hàng bán lẻ đã được hình thành, phục vụ người dân và du khách từ sáng đến tối.

Các chợ truyền thống là nơi tập trung đại bộ phận người dân với mức giá cả hàng hóa hợp lý, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng từ bình dân đến những người có thu nhập khá.

Theo KTS Trần Huy Ánh, để có thể tồn tại được, các chợ truyền thống cần phải đa dạng hóa loại hình kinh doanh, dịch vụ. Trong khu vực nội đô, mô hình kinh doanh chợ truyền thống có lợi thế để duy trì nếu như kết hợp song song với hoạt động khai thác du lịch. Hiện nay, các chợ truyền thống vẫn được cải tạo, nâng cấp để đáp ứng với nhu cầu và đảm bảo an toàn cho người dân khi kinh doanh, mua sắm. “Việc cải tạo nâng cấp không làm mất đi “tính chợ” mà nó làm cho cơ sở vật chất được tốt hơn, phù hợp hơn để khai thác kinh doanh” – KTS Trần Huy Ánh nói.

Doãn Thành/Kinh tế Đô thị

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement
Advertisement

Phong thủy

Ôtô

Advertisement

Tin rao mới nhất

"Đăng nhanh-Bán nhanh"

2 Teen

Xu hướng