Connect with us
Mo gian hang truc tuyen

Kiến trúc

Quản lý nhà chung cư: Bao giờ mới hết bất cập?

(Vnexpress)

Published

on

Đánh giá về quản lý chung cư tại Hà Nội, đặc biệt là các khu chung cư thuộc diện tái định cư, nhiều chuyên gia cho rằng về mặt cơ chế và công tác quản lý vẫn chưa thật sự bài bản, khoa học. Mặc dù TP Hà Nội đã có nhiều văn bản chỉ đạo về vấn đề này, nhưng thực tế hiệu quả vẫn chưa cao. Trong khi đó, tranh chấp ngày càng khó khăn hơn và gây nhiều phiền toái hơn cho cả cơ quan quản lý, ban quản trị, cư dân và chủ đầu tư.

Sáu vấn đề lớn

Về thực trạng quản lý nhà chung cư, đối với chung cư thương mại, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 697 (cụm, tòa) nhà chung cư thương mại đã đưa vào sử dụng. Trong đó, trước khi có Luật Nhà ở là 137 nhà chung cư, từ khi có Luật Nhà ở là 560 nhà chung cư. Việc phân loại này là cơ sở để lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật trong đánh giá, xác định nguyên nhân, trách nhiệm và đề ra giải pháp giải quyết vướng mắc, tồn tại phù hợp.

Hiện tại đã có 454/697 nhà chung cư thành lập Ban quản trị. Bên cạnh đó, đối với nhà chung cư tái định cư, tổng số nhà chung cư tái định cư là 168 tòa, trong đó, nhà chung cư xây dựng trước Luật Nhà ở 2005 có 79 tòa nhà; sau Luật Nhà ở 2005 có 89 tòa nhà. Đã có 73/168 tòa nhà chung cư thành lập được Ban quản trị, đạt tỷ lệ 43,6%.

Nhà chung cư đang tăng cả về số lượng và sự mâu thuẫn.

Nhà chung cư đang tăng cả về số lượng và sự mâu thuẫn.

Theo Sở Xây dựng Hà Nội, đến nay có 6 tồn tại chính trong quản lý nhà chung cư hiện nay là: Việc tổ chức Hội nghị nhà chung cư là thủ tục đầu tiên để triển khai các thủ tục quản lý vận hành nhà theo nguyên tắc công khai, dân chủ, nhưng việc triển khai thực hiện còn chậm và kết quả còn hạn chế. Việc bàn giao hồ sơ nhà chung cư còn chậm, chưa đầy đủ gây khó khăn trong công tác quản lý.

Một số chủ đầu tư chậm bàn giao kinh phí bảo trì phần sở hữu chung 2% dẫn đến Ban quản trị nhà chung cư không đủ điều kiện hoạt động, nhiều trường hợp tranh chấp giữa chủ đầu tư và Ban quản trị. Nhiều nhà chung cư còn tồn tại những bất cập trong công tác phòng cháy chữa cháy. Đặc biệt, nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập này là do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vận hành nhà chung cư còn thiếu sự đồng bộ; một số quy định còn thiếu, chưa cụ thể.

Trên thực tế, thành phố Hà Nội đã có rất nhiều văn bản chỉ đạo về công tác quản lý chung cư đã được ban hành. Theo thống kê, trong năm 2017, thành phố đã có 5 văn bản chỉ đạo, năm 2018 tiếp tục ra 6 văn bản chỉ đạo nhưng đến nay hiệu quả vẫn chưa cao, vẫn còn nguyên 6 tồn tại và ngày một tiềm ẩn thêm những vấn đề phức tạp

Quy đầu mối trách nhiệm

Về công tác chấp hành quy định trong quản lý nhà chung cư, theo Trưởng Ban Pháp chế HĐND TP Hà Nội Nguyễn Hoài Nam, chúng ta cần phải có một đơn vị chịu trách nhiệm rõ ràng trong công tác quản lý nhà chung cư, đặc biệt là trách nhiệm của Sở Xây dựng Hà Nội. Đại diện Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân Thành phố cũng nêu rõ, hiện tại không chỉ có 6 tồn tại mà đã có thêm 2 vướng mắc mới nẩy sinh trong quá trình quản lý nhà chung cư và cũng chưa có hướng giải quyết. Thứ nhất, việc bàn giao quỹ bảo trì, trường hợp không bàn giao thì sẽ phải tiến hành cưỡng chế. Việc này đã được quy định rõ trong Thông tư 02 của Bộ Xây dựng, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện.

Bên cạnh đó, thực tế hiện nay cho thấy, tại nhiều chung cư mặc dù đã có Ban quản trị nhưng vẫn tiếp tục phát sinh vấn đề. Cụ thể, nhiều tòa nhà do Ban quản trị không đủ chuyên môn, năng lực nên đã gặp khó trong việc quản lý, hoặc thuê lại đơn vị quản lý tòa nhà. Hướng giải quyết cho trường hợp này như thế nào, người dân phải làm sao… Cuối cùng, đó là trách nhiệm của chính quyền địa phương, khi nảy sinh mâu thuẫn thì địa phương sẽ phải làm “trọng tài” như thế nào? Phân xử ra sao, cấp độ nào giải quyết… thì vẫn chưa có đầu có cuối.

“Vấn đề ở đây là phải làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, của địa phương trong công tác tham mưu với thành phố. Theo đó, trường hợp nào vượt quá thẩm quyền thì có thể kiến nghị thành phố, thậm chí kiến nghị thẳng lên Thường trực UBNDTP Chúng ta không thể mãi tuyên truyền, phổ biến khi mà vấn đề đã bộc lộ hết rồi” – ông Nguyễn Hoài Nam nhấn mạnh.

Được biết, mới đây nhằm tháo gỡ một phần khó khăn trong quản lý nhà chung cư, UBND TP Hà Nội đã có quyết định phê duyệt đề cương nhiệm vụ “Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển, quản lý không gian công cộng tại các dự án nhà ở trên địa bàn TP Hà Nội”. Sau khi đánh giá được hiện trạng sẽ nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển không gian công cộng. Trong đó có định hướng phát triển, quản lý đáp ứng yêu cầu của cộng đồng dân cư; đưa ra giải pháp thúc đẩy trách nhiệm của nhà đầu tư đối với việc xây dựng, quản lý không gian công cộng, tăng cường công tác quản lý và giám sát đối với không gian này.

Tuấn Dũng/Báo Lao động Thủ đô

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement
Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Kiến trúc

Bảo tồn chợ truyền thống trong nội đô

(Vnexpress)

Published

on

Dù vẫn đang trong giai đoạn đô thị hóa mạnh, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, TP vẫn phải bảo tồn và duy trì các chợ truyền thống trong nội đô như một nét văn hóa ngàn năm của Hà Nội cổ kính.

Năm 2009, TP Hà Nội chủ trương thí điểm chuyển đổi một số mô hình từ chợ truyền thống thành các trung tâm thương mại (TTTM) kết hợp với chợ. Trong khoảng 8 năm đã hình thành các TTTM thay thế các khu vực chợ cũ như: TTTM Chợ Mơ, TTTM Chợ Hàng Da, TTTM Chợ 19/12… các TTTM được thiết kế chia thành 2 phần: Phần nổi là không gian cho TTTM và phần ngầm (tầng hầm) dùng để các tiểu thương kinh doanh các mặt hàng theo mô hình chợ.

Chợ Đồng Xuân với hơn 200 năm tồn tại đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Ảnh: Doãn Thành

Chợ Đồng Xuân với hơn 200 năm tồn tại đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Ảnh: Doãn Thành

Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, đánh giá kết quả thực hiện, đến năm 2017 TP đã quyết định dừng các dự án TTTM kết hợp chợ, do mô hình không mang lại hiệu quả cho các tiểu thương và người dân buôn bán tại chợ.

Lý giải về lý do này, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Đồng Xuân Vũ Hà Thanh cho biết, trên 75% người dân Việt Nam có thói quen đi chợ truyền thống, chợ truyền thống của người Việt phần lớn đều giáp với mặt đường lớn, thậm chí các chợ cóc, chợ củi còn nằm ngay bên lề đường, người dân chỉ cần tạt xe vào là có thể mua bán được. Nên khi các TTTM được xây dựng kết hợp với mô hình chợ dưới tầng hầm, người dân có xu thế ngại gửi xe để đi bộ xuống hầm, chưa kể vấn đề việc gửi xe ở các TTTM cũng phức tạp, đôi khi phải đi lòng vòng, lạc đường… Vì thế khi các chợ được mở dưới tầng hầm của TTTM, người dân không còn mặn mà nữa, dẫn đến tình trạng hoạt động kinh doanh theo mô hình này không hiệu quả.

Đánh giá về việc thay đổi mô hình kinh doanh từ chợ truyền thống sang TTTM kết hợp chợ, ông Vũ Hà Thanh cho rằng, nếu tính về giá trị sử dụng, các TTTM có thể khai thác được nhiều hơn các chợ truyền thống, khi vừa có thể cho thuê văn phòng, buôn bán, một số TTTM còn khai thác thêm cả căn hộ chung cư. Ngoài ra, việc buôn bán tại các TTTM thì có thể dễ dàng quản lý được nguồn gốc hàng hóa.

“Nhưng trên thực tế, đối với Hà Nội việc bảo tồn và duy trì một số chợ truyền thống không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn về giá trị văn hóa, lịch sử. Nhiều đô thị lớn trên thế giới họ vẫn giữ các chợ truyền thống trong khu vực nội đô” – ông Vũ Hà Thanh nói.
Cùng quan điểm, KTS Trần Huy Ánh – Ủy viên Thường vụ Hội KTS Hà Nội cho biết, trong lịch sử phát triển của Thủ đô Hà Nội, chợ chính là nền tảng cho quá trình đô thị hóa, chợ truyền thống đóng một vai trò hết sức quan trọng trong lưu thông, trao đổi hàng hóa, phù hợp với nhu cầu phát triển qua các thời kỳ của người dân Thủ đô. Bởi vậy, có những tên chợ khi nhắc đến là người ta có thể nhận diện ngay ra đó là sản phẩm của Hà Nội.

“Du khách đến phố cổ muốn mua sắm, họ mặc định đi lên phố Đồng Xuân, thì bắt buộc chợ Đồng Xuân phải nằm ở đó và nó phải đúng là một cái “chợ”. Chính nét đặc trưng riêng của từng chợ đã thu hút sự tò mò, thích khám phá, tìm hiểu của du khách, nếu đến đó mà thấy một tòa nhà TTTM thì họ sẽ thất vọng và không có nhu cầu tìm hiểu, khám phá nữa, vì TTTM nào cũng na ná như nhau” – KTS Trần Huy Ánh nói.

Đa dạng loại hình kinh doanh

Sau gần 10 năm kinh doanh buôn bán tại chợ Đồng Xuân, chị Phạm Lệ Quyên chia sẻ, thời gian gần đây các kiot bán hàng phía mặt tiền phố Đồng Xuân đã được bố trí, sắp xếp lại, chủ yếu buôn bán các loại mặt hàng phục vụ khách du lịch. Thu nhập từ bán lẻ cũng tương đối ổn định, vì lượng khách du lịch đến chợ rất đông. Hiện nay, nhiều tiểu thương trong chợ đã quen với mô hình kinh doanh kết hợp khai thác thương mại từ khách du lịch.

Khảo sát thực tế tại chợ Đồng Xuân và một số chợ truyền thống tại khu vực nội của Hà Nội, đa phần các tiểu thương và người buôn bán nhỏ đã thay đổi mô hình kinh doanh để đáp ứng với nhu cầu thực tế. Ví như ở chợ Đồng Xuân, doanh thu bán hàng đạt trên 100 tỷ đồng/tháng, lượng hàng hóa thực phẩm các loại luân chuyển qua chợ từ 10 – 20 tấn/ngày, nhưng chợ đã được bố trí thành những khu vực riêng để có thể vừa kinh doanh, vừa khai thác hoạt động du lịch, khách du lịch có thăm quan kết hợp mua sắm, ăn uống tại chợ.

Đại diện Công ty CP Đồng Xuân (đơn vị quản lý chợ Đồng Xuân) cho biết, sự thay đổi rõ rệt nhất của chợ Đồng Xuân chính là cách thức tiếp cận khách hàng. Nếu trước đây, tiểu thương chợ Đồng Xuân không bán lẻ thì hiện nay, các quầy hàng bán lẻ đã được hình thành, phục vụ người dân và du khách từ sáng đến tối.

Các chợ truyền thống là nơi tập trung đại bộ phận người dân với mức giá cả hàng hóa hợp lý, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng từ bình dân đến những người có thu nhập khá.

Theo KTS Trần Huy Ánh, để có thể tồn tại được, các chợ truyền thống cần phải đa dạng hóa loại hình kinh doanh, dịch vụ. Trong khu vực nội đô, mô hình kinh doanh chợ truyền thống có lợi thế để duy trì nếu như kết hợp song song với hoạt động khai thác du lịch. Hiện nay, các chợ truyền thống vẫn được cải tạo, nâng cấp để đáp ứng với nhu cầu và đảm bảo an toàn cho người dân khi kinh doanh, mua sắm. “Việc cải tạo nâng cấp không làm mất đi “tính chợ” mà nó làm cho cơ sở vật chất được tốt hơn, phù hợp hơn để khai thác kinh doanh” – KTS Trần Huy Ánh nói.

Doãn Thành/Kinh tế Đô thị

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Quản lý xen cấy công trình cao tầng hỗn hợp nội đô – Thực tiễn và kinh nghiệm

(Vnexpress)

Published

on

(Tạp chí KTVN) – Theo đánh giá khảo sát gần 100 công trình cao tầng đã đưa vào sử dụng và xây mới tại TPHCM thuộc các khu vực quận 1, quận 3, quận Bình Thạnh, quận Tân Bình, cũng như tại thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, có một số lượng rất lớn các công trình cao tầng xây mới trong khu vực đô thị, đặc biệt là khu vực nội đô lịch sử đang được thiết kế và thi công theo loại hình công trình cao tầng hỗn hợp. Tuy nhiên, qua đánh giá cũng cho thấy hệ thống các quy định về thiết kế và quản lý cấp phép xây dựng loại hình công trình này còn nhiều khoảng trống. Điều này có thể được xem là một trong những nguyên nhân chính phát sinh hệ lụy tiêu cực của việc chất tải hạ tầng nội đô do tác động từ xen cấy các công trình cao tầng hỗn hợp. 

Vincom Bà Triệu Tower, một trong những công trình tổ hợp cao tầng hỗn hợp đầu tiên tại TP Hà Nội

Vincom Bà Triệu Tower, một trong những công trình tổ hợp cao tầng hỗn hợp đầu tiên tại TP Hà Nội

Bùng nổ xen cấy công trình cao tầng hỗn hợp nội đô, một hiện tượng không thể bỏ qua

Theo đánh giá khảo sát năm 2018 với gần 100 dự án công trình cao tầng (trên 9 tầng) tại TPHCM thuộc các khu vực quận trung tâm nội đô, bên cạnh các loại hình nhà ở thông thường như khách sạn, căn hộ chung cư, văn phòng, thì có 90% công trình thuộc loại hình công trình cao tầng hỗn hợp trong đó là sự kết hợp nhiều chức năng trong cùng một tổ hợp công trình cùng với chức năng chính là văn phòng hay căn hộ chung cư, đặc biệt là việc bố trí các chức năng tập trung đông người như TTTM, rạp chiếu phim…

Rất nhiều các công trình cao tầng hỗn hợp trong số này có quy mô diện tích và chiều cao rất lớn, điển hình tại TPHCM có thể kể đến như Tổ hợp Kumho Asiana Plaza (quận 1 TPHCM, cao 21 tầng – 03 hầm gồm 300 phòng khách sạn 5 sao, 270 căn hộ chung cư cao cấp, 06 tầng đế là TTTM); Tổ hợp tháp cao tầng Bitextco Financial Tower (quận 1 TPHCM, tổng diện tích sàn 45.600m2 gồm: 37.000m2 văn phòng, 8.000m2 thương mại, 600m2 nhà hàng ẩm thực); Tổ hợp Kingston Residence và Orchard Parkview cùng tại quận Phú Nhuận do tập đoàn Novaland làm chủ đầu tư lần lượt có quy mô chiều cao 20 tầng – 02 tầng hầm bao gồm 12.059m2 diện tích dịch vụ và 24 tầng – 02 tầng hầm với 399 căn hộ và 123 Officetel. Tại quận Tân Bình, tổ hợp công trình Republic Plaza Cộng Hòa, bên cạnh diện tích căn hộ chung cư cũng dành gần 6.000m2 khối đế cho TTTM.

Tại các đô thị khác trên phạm vi cả nước, dù có chút khác biệt về quy mô diện tích, tính chất sử dụng tuy nhiên cũng cho thấy một hiện trạng tương tự khi ngày càng có nhiều các tòa nhà theo mô hình công trình hỗn hợp cao tầng xuất hiện tại các khu vực nội đô. Tại Hà Nội, các tổ hợp công trình tiểu biểu như Chung cư Pacific Place Hà Nội (83 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, cao 18 tầng với 16.500m2 văn phòng hạng A, 179 căn hộ cao cấp, 64.000m2 dành cho các cửa hàng dịch vụ), Chung cư Kinh Đô Building (93 Lò Đúc, Quận Hai Bà Trưng, cao 29 tầng gồm văn phòng, cửa hàng và chung cư. Tổng diện tích 51.300m2 gồm 39.900m2 dành cho chung cư, 7.600m2 cho văn phòng và 3.800m2 cho cửa hàng), Tổ hợp Chung cư Royal City (Quận Thanh Xuân, tổng diện tích khu đất: 120.945m2, diện tích TTTM và siêu thị: 230.000m2), Tổ hợp Indochina Plaza Hà Nội (241 Xuân Thủy, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội, 2 tòa tháp 54-43 tầng với 386 căn hộ, 01 tháp văn phòng với 18.000m² diện tích văn phòng hạng A và 04 tầng TTTM có diện tích lên tới 14.000m²).

Tại Đà Nẵng, cũng xuất hiện tình trạng bùng nổ xây dựng công trình cao tầng hỗn hợp như: Vĩnh Trung Plaza (255-257 Hùng Vương, quận Thanh Khê, với tháp văn phòng cao 13 tầng, tháp 17 tầng căn hộ – khách sạn, 02 tầng hầm, 99 căn hộ khách sạn, 108 căn hộ cho thuê, 14.700m2 trên 4 tầng TTTM); Indochina Riverside Towers (74 Bạch Đằng, quận Hải Châu, gồm 02 tháp, tháp văn phòng 13 tầng, tháp chung cư 25 tầng, 01 tầng hầm 3 tầng TTTM); Khu phức hợp khách sạn Bạch Đằng – Hilton Đà Nẵng (gồm tháp khách sạn 29 tầng – 226 phòng; tháp văn phòng 21 tầng – 3.000m2 văn phòng và 70 căn hộ cao cấp).

Sơ đồ một số các công trình cao tầng và phức hợp cao tầng tại quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng (nguồn ảnh: Internet)

Sơ đồ một số các công trình cao tầng và phức hợp cao tầng tại quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng
(nguồn ảnh: Internet)

Do nhu cầu khai thác triệt để các ưu thế về vị trí “vàng” phục vụ kinh doanh – sử dụng, thực tế cũng cho thấy xu thế phát triển các công trình cao tầng tại các khu vực nội đô lịch sử như trên đang có chiều hướng ngày càng phát triển về số lượng dự án cũng như các công trình phức hợp xây mới, có sự gia tăng về quy mô diện tích và khối tích. Việc chưa tính đúng các chỉ tiêu áp lực sử dụng của phần diện tích hỗn hợp với hệ thống hạ tầng đô thị (thường bỏ qua đối với diện tích TTTM – dịch vụ) về mặt cơ học có thể làm gia tăng các áp lực lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật – hạ tầng xã hội của khu vực nội đô lịch sử do tần suất đi lại và sử dụng trong các giờ cao điểm là khá lớn.

Cùng với đó, trong bối cảnh các hệ thống các tiêu chuẩn – quy chuẩn (TCVN – QCXD) quy định cho công tác thiết kế công trình hỗn hợp cao tầng còn chưa thống nhất và đồng bộ, thì việc “bùng nổ xen cấy” các dự án công trình hỗn hợp cao tầng trong khu vực nội đô lịch sử cũng trở thành rào cản cho công tác quản lý cấp phép cũng như thiết kế, làm trầm trọng thêm các tác động tiêu cực của việc phát triển nhà cao tầng với đô thị mà biểu hiện rõ nét nhất là các hiện tượng kẹt xe, ngập úng, quá tải hạ tầng thường xuyên xảy ra.

Kinh nghiệm thiết kế và quản lý từ Singapore

Công trình phức hợp cao tầng tuyến phố Orchard (Singapore)

Công trình phức hợp cao tầng tuyến phố Orchard (Singapore)

Rất khó có thể tìm được một khái niệm chính xác về loại hình Nhà ở hỗn hợp cao tầng. Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/06/2010 quy định hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở có đề cập các dự án xây dựng loại hình nhà ở bao gồm cả công trình có mục đích sử dụng hỗn hợp làm nhà ở, văn phòng, TTTM, dịch vụ. Tuy nhiên, có thể hiểu loại hình công trình cao tầng hỗn hợp là công trình có thêm chức năng phụ (TTTM, rạp chiếu phim,…) bên cạnh một chức năng chính là văn phòng hay căn hộ chung cư. Như vậy, bên cạnh một số thể loại Chung cư hỗn hợp (chung cư, TTTM, dịch vụ); Văn phòng hỗn hợp (Văn phòng, TTTM, dịch vụ)… cũng còn nhiều một số loại hình tòa nhà cao tầng hỗn hợp khác như tổ hợp khách sạn hỗn hợp, Trung tâm dịch vụ hỗn hợp…

Trên thực tế các quy định hướng dẫn cho công tác thiết kế và thi công công trình hỗn hợp cao tầng còn chưa hoàn thiện và đồng bộ gây cản trở lớn cho công tác đầu tư – thiết kế – quản lý công trình, dẫn đến nhiều tác động bất lợi cho quá trình phát triển đô thị bởi sự lộn xộn – khó kiểm soát công trình cao tầng nội đô.

Trong giai đoạn trước năm 2013, TCVN 323:2004 là bộ tiêu chuẩn về thiết kế nhà cao tầng dù có đề cập một cách hệ thống các quy định thiết kế nhưng còn thiếu các nội dung điều khoản với công trình cao tầng hỗn hợp. Chính vì vậy, trong các giai đoạn thiết kế, các đơn vị tư vấn – đầu tư – cấp phép quản lý phải “vận dụng linh hoạt” cùng lúc nhiều loại tiêu chuẩn khác nhau cho từng chức năng trong một tòa nhà (như sử dụng TCVN 9211:2012 về thiết kế chợ cho diện tích TTTM, TCVN 4451:2012 về thiết kế nhà ở cho khối căn hộ, TCVN 4319:2012 về nhà ở và công trình công cộng cho các diện tích công trình rạp chiếu phim…) với nhiều chi tiết còn nhiều độ vênh. Và khi tiêu chuẩn này chính thức bị hủy bỏ đầu năm 2013, thì việc thỏa thuận giữa tư vấn thiết kế – chủ đầu tư – cơ quan quản lý cấp phép thực sự là một cuộc “vật lộn”.

Rất nhiều các kiến trúc sư, các nhà quản lý đã cho rằng, để sớm khỏa lấp các chỗ trống pháp lý, nhằm loại bỏ những rào cản, tạo sự minh bạch trong đầu tư – thiết kế – cấp phép quản lý công trình cao tầng hỗn hợp tại các đô thị, hướng đến sự chuẩn mực và trật tự trong phát triển đô thị, cần sớm có các quy định cụ thể và thống nhất đối với công trình hỗn hợp cao tầng, đặc biệt trong các khu vực nội đô lịch sử.
Kinh nghiệm từ quốc gia phát triển trong khu vực là Singapore cho thấy, ngay từ những năm 1987, khi xuất hiện sự bùng nổ phát triển các công trình cao tầng trong khu vực các quận trung tâm nội đô, bên cạnh một quy hoạch đô thị bài bản có tính đến tổng thể khả năng chịu tải của hệ thống hạ tầng đô thị cho từng khu vực thì Chính phủ và Cơ quan phát triển tái thiết đô thị Singapore (Urban Redevelopment Authority) cũng nghiên cứu và công bố đồng bộ hệ thống các quy định về tiêu chí và chỉ tiêu đối với công tác thiết kế và quản lý cấp phép công trình cao tầng bao gồm các công trình cao tầng hỗn hợp. Điều này càng được xác định rõ trong tầm nhìn đồ án quy hoạch chung đô thị năm 2008.

Trước hết, việc phân loại công trình cao tầng hỗn hợp có định nghĩa với các tiêu chí rõ ràng được nghiên cứu và nêu rất rõ trong nhiều quy định một cách thống nhất. Theo điều 2 (khoản 1) trong Quy chế quản lý và vận hành công trình (Building Maintenance and Strata Management Regulation) Singapore định nghĩa công trình hỗn hợp (Mixed Use) là loại công trình có từ 2 chức năng trở lên trong đó có 1 chức năng chiếm đa số, và có thể tạm phân thành các dạng như: (1) Chung cư hỗn hợp, (2) Văn phòng hỗn hợp, (3) Thương mại hỗn hợp (gồm shop bán hàng, khu ăn uống và giải khát, rạp hát – rạp chiếu phim, Bar – hộp đêm và các chức năng giải trí khác), (4) Khách sạn hỗn hợp, (5) Công trình công nghiệp (chỉ gồm chức năng nhà kho và showroom). Tuy nhiên, tùy theo tỷ lệ chức năng phụ so với chức năng chính mà các quy định với các chỉ tiêu và tiêu chí khác nhau trong 2 nội dung là Công trình nhà ở (Residence) và công trình phi nhà ở (Non – Residence).

Tiếp đó, chính quyền đề xuất hàng loạt các tiêu chí và chỉ tiêu quản lý công trình cao tầng hỗn hợp trên toàn quốc, đặc biệt là với khu vực nội đô. Cụ thể, bên cạnh chỉ tiêu hệ số sử dụng đất, việc quản lý chiều cao công trình được quản lý thông qua 2 chỉ số chính là hệ số sử dụng đất (Plot Ratio hoặc Gross plot ratio control) và chiều cao công trình. Thông qua 2 chỉ số này mà chính quyền luôn tính toán trước và quản lý chặt chẽ trong quá trình triển khai quy hoạch phát triển đô thị. Thực tế cũng cho thấy, chính quyền cũng dùng rất nhiều các tiêu chí, chỉ tiêu, quy định phụ rất khắt khe cần có về hình dáng khu đất, các điều kiện về khoảng lùi, chiều cao tổng thể toàn khu, tổng diện tích khu đất, các yêu cầu về kỹ thuật hạ tầng ảnh hưởng đến khu đất để hạn chế các dự án xây dựng tối đa chỉ tiêu cho phép. Cụ thể:

Đối với dạng công trình nhà ở, diện tích khu vực TTTM trong các tòa nhà chung cư, chính quyền cho phép xem xét và tính toán thiết kế bố trí một số lượng diện tích sàn nhất định nhằm phục vụ cho sự phát triển nâng cao chất lượng sống của khu vực dân cư chung đô thị. Tuy nhiên, việc cho phép bố trí các diện tích TTTM trong khu chung cư (tương tự với mô hình nhà ở hỗn hợp tại Việt Nam) cần được tính toán đáp ứng các tiêu chí cụ thể sau:

(a) Mật độ tập trung người phù hợp;
(b) Quy mô diện tích phần TTTM có tỷ lệ tương quan phù hợp với tổng diện tích sàn;
(c) Đảm bảo khả năng thoát người an toàn;
(d) Có vị trí xây dựng tiếp cận gần với các tuyến giao thông chính đô thị;
(e) Có mối tương quan và hỗ trợ cho các công trình lân cận;
(f) Phù hợp với quy hoạch chung phân khu của khu vực.

Do vậy, số lượng diện tích dành cho TTTM cũng được ước tính trước tiên trong đồ án quy hoạch chung và quy hoạch phân khu đô thị. Nếu được chấp thuận, tổng diện tích phần TTTM phải được tính trong tổng diện tích sàn công trình để tính toán GPR – gross plot ratio (tương đương với chỉ tiêu hệ số sử dụng đất tại Việt Nam).

Chính quyền chỉ cho phép thiết kế các loại cửa hàng dịch vụ phục vụ nhu cầu dân sinh, các loại diện tích dịch vụ hoạt động kiểu văn phòng độc lập sẽ không được cấp phép.

Bảng quy định khoảng lùi và khoảng đệm trồng cây xanh với công trình hỗn hợp có mặt tiền dọc theo tuyến phố tại Singapore, một trong những chỉ tiêu khống chế các tác động tiêu cực đến kiến trúc cảnh quan và giao thông đô thị (Road Buffer: khoảng lùi, Green buffer: khoảng xanh; Residence/Educational: công trình nhà ở có kèm chức năng giáo dục, Comercial/ Industrial/ Institutional/ Multi-storeys carpark/ place of workshop: công trình có chức năng kết hợp thương mại/công nghiệp/ tầng để xe nổi/ xưởng chế tác)

Bảng quy định khoảng lùi và khoảng đệm trồng cây xanh với công trình hỗn hợp có mặt tiền dọc theo tuyến phố tại Singapore, một trong những chỉ tiêu khống chế các tác động tiêu cực đến kiến trúc cảnh quan và giao thông đô thị (Road Buffer: khoảng lùi, Green buffer: khoảng xanh; Residence/Educational: công trình nhà ở có kèm chức năng giáo dục, Comercial/ Industrial/ Institutional/ Multi-storeys carpark/ place of workshop: công trình có chức năng kết hợp thương mại/công nghiệp/ tầng để xe nổi/ xưởng chế tác)

Tại Singapore, tỷ lệ diện tích sàn TTTM trung bình cho phép là 3m2/1.000m2 diện tích sàn căn hộ. Ví dụ trường hợp tòa nhà có 20.000m2 diện tích căn hộ thì diện tích TTTM cho phép trong công trình là 60m2 (ít hơn đáng kể so với diện tích TTTM trong các khu vực nội đô hiện nay tại Việt Nam). Tuy nhiên, tổng diện tích sàn của khu vực thương mại trong tòa nhà không được vượt quá chỉ tiêu đã được tính toán.
Đối với dạng công trình phi nhà ở, thiết kế công trình cao tầng hỗn hợp chịu sự điều tiết của một loạt các quy hoạch như quy hoạch chung đô thị, quy hoạch thiết kế đô thị kiểm soát chiều cao, các quy định kiểm soát kiến trúc mặt ngoài công trình, quy hoạch quản lý cảnh quan tuyến phố, cũng như một số các quy hoạch kiểm soát khác.

Tỷ lệ diện tích công trình thương mại đối với loại công trình phi nhà ở nhưng có một số nhỏ căn hộ chung cư hoặc khách sạn thì cũng cho phép tối đa chiếm 40% trên tổng diện tích sàn (có thể cơ bản tương đồng với các công trình văn phòng hỗn hợp tại Việt Nam hiện nay).

Cùng với đó, các chỉ tiêu và tiêu chí quy định gián tiếp về chỗ để xe và khoảng lùi cũng được xem là cách để khống chế quản lý tốt tỷ lệ diện tích hỗn hợp, tránh làm gia tăng áp lực hạ tầng khi xây dựng công trình cao tầng hỗn hợp. Nhìn chung, các yêu cầu về diện tích chỗ đỗ xe được quy định bởi Cơ quan quản lý đất giao thông (Land Transport Authority). Yêu cầu diện tích chỗ đỗ xe tối thiểu với công trình nhà ở (bao gồm công trình nhà ở hỗn hợp và không bao gồm nhà ở xã hội) là 01 chỗ để xe cho 01 căn hộ cũng như phần dành cho chức năng thương mại, đặc biệt là tại các khu vực trung tâm đô thị. Chính quyền cho phép công trình được sử dụng hoán đổi giữa các chức năng khác nhau trong điều kiện tần suất sử dụng không bị xung đột. Tuy nhiên, diện tích tổng thể chỗ để xe đối với công trình hỗn hợp dịch vụ không được vượt quá 20% tổng diện tích sàn công trình (để tránh tác động lên hệ thống giao thông chung toàn khu vực).

Các công trình cao tầng hỗn hợp tại khu vực nội đô cũng cần tuân theo các quy định về khoảng đệm, khoảng lùi và khoảng đệm cây xanh cần thiết để làm đẹp cho kiến trúc cảnh quan khu vực và tránh xung đột về giao thông. Tùy theo các loại chức năng và vị trí khác nhau mà các công trình hỗn hợp có khoảng lùi từ 5-30m với khoảng đệm trồng cây xanh từ 3-5m (cao nhất với loại công trình nhà chung cư có trường học).

Kết luận

Như vậy, có thể thấy, trước thực tế bùng nổ xen cấy các công trình hỗn hợp cao tầng hiện nay, cần sớm xây dựng đồng bộ hệ thống các tiêu chí – chỉ tiêu là cơ sở để phục vụ công tác quản lý công trình cao tầng khu vực nội đô lịch sử bao gồm: mật độ dân số, hạ tầng giao thông, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, và khả năng đảm bảo an toàn thoát người.

Kinh nghiệm về quản lý chiều cao công trình cao tầng hỗn hợp tại Singapore cho thấy rõ, chỉ có thể thông qua các tiêu chí và chỉ tiêu trực tiếp cơ bản như tổng diện tính sàn, chiều cao công trình, cùng các tiêu chí gián tiếp khác như diện tích bãi đỗ xe, khoảng lùi, vị trí xây dựng… các cơ quan đã có thể cơ bản quản lý việc phát triển công trình cao tầng hỗn hợp trong khu vực nội đô, góp phần tạo dựng sự đồng bộ và hợp lý trong phát triển đô thị.

Một quy hoạch phân khu trong đó tính toán rõ các tầm nhìn phát triển và các chỉ tiêu – tiêu chí cho phát triển nhà cao tầng nói chung và công trình cao tầng hỗn hợp nói riêng có tính toán đến các hệ số dung nạp về giao thông, sử dụng đất, cân bằng với nhu cầu thương mại toàn khu là rất cần thiết.

Việc phát triển công trình cao tầng nội đô là xu thế tất yếu trên toàn cầu, trong đó các đô thị Việt Nam không phải là một loại trừ. Do vậy, những bài học trong quản lý chiều cao công trình cao tầng hỗn hợp khu vực nội đô Singapore có thể là những kinh nghiệm tốt áp dụng cho các điều kiện thực tiễn ở Việt Nam trong thời gian tới./.

Ths.KTS Đặng Tiên Phong – Ths.KTS Phạm Hoàng Phương/Viện Kiến trúc Quốc gia

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013 – Bài 1: Nhìn lại sau gần 4 năm thực hiện “Tổng quan và giải pháp”

(Vnexpress)

Published

on

Thực hiện Luật Đất đai 2013, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị định; các bộ, ngành đã ban hành hơn 40 Thông tư, Thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành Luật, kịp thời hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật Đất đai 2013 tại các tỉnh, thành phố cho thấy, hiện nay nguồn lực về đất đai vẫn chưa thực sự khai thác và phát huy đầy đủ để trở thành nguồn nội lực quan trọng phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội.

Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên? Những vấn đề phát sinh khi thực thi Luật Đất đai của một số địa phương ra sao? Cần sớm tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai thế nào để định hướng đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Bài 1: Luật Đất đai 2013 – Nhìn lại sau gần 4 năm thực hiện

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua đánh dấu bước tiến trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật đất đai. Sau gần 4 năm thi hành Luật Đất đai 2013, công tác quản lý đất đai ở các địa phương trong cả nước đã đạt một số kết quả quan trọng.

TP Hà Nội đang nỗ lực “vạch lá tìm sâu” vi phạm Luật Đất đai, nhằm sớm trả lại nguồn lực cho tăng trưởng. Ảnh: Nguyễn Thắng/TTXVN

TP Hà Nội đang nỗ lực “vạch lá tìm sâu” vi phạm Luật Đất đai, nhằm sớm trả lại nguồn lực cho tăng trưởng. Ảnh: Nguyễn Thắng/TTXVN

Những kết quả quan trọng

Đánh giá tổng quan của  cơ quan có trách nhiệm cho thấy, sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực, nhiều địa phương đã triển khai tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai. Những khó khăn vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật Đất đai giữa Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013 đã được kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ; không để ách tắc gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, Bộ Tài nguyên Môi trường và các địa phương đã quyết liệt đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai đã được tập trung xây dựng…

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Bước đầu, tình trạng giao đất, cho thuê đất tràn lan, không đưa vào sử dụng, lãng phí đã được khắc phục; hạn chế được việc giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tư không có năng lực, tránh được lãng phí trong việc sử dụng đất.

Tại các địa phương, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất “ tùy tiện” làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất. Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi. Chính sách tài chính về đất đai  được hoàn thiện đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách. Những quy định đổi mới về giá đất đã tạo sự chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai bằng biện pháp kinh tế.

Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đã được coi trọng, giảm tối đa các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Việc thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc nộp hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ công việc và giúp đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.

Công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý, sử dụng đất đai được chú trọng. Các địa phương coi trọng việc chỉ đạo, đôn đốc thực hiện và công khai kết quả các kết luận thanh tra, qua đó, đã góp phần phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm luật đất đai và khắc phục nhiều tồn tại, bất cập trong quản lý, sử dụng đất.

Luật Đất đai 2013 có hiệu lực làm thay đổi thị trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng. Giao dịch về quyền sử dụng đất từng bước đi vào nề nếp và ổn định, các đơn vị tư vấn đất được hình thành và hoạt đông ngày càng chuyên nghiệp, hỗ trợ cho thị trường bất động sản. Thị trường quyền sử dụng đất đã góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Đất đai chưa thực sự là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế- xã hội

Bên cạnh một số kết quả tích cực đã đạt được, quá trình thực hiện cho thấy, Luật Đất đai 2013 vẫn còn bộc lộ một số bất cập. Nguồn lực về đất đai vẫn chưa thực sự khai thác và phát huy đầy đủ và bền vững để trở thành nguồn nội lực quan trọng phục vụ  phát triển kinh tế – xã hội. Khó khăn trong tiếp cận đất đai vẫn là một trong những rào cản để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp diễn ra còn chậm, chưa theo kịp nhu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, cho phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng; đất đai manh mún đang là yếu tố cản trở người dân  và doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào nông nghiệp. Hạn điền (hạn mức nhận  chuyển quyền) và thời hạn (hạn mức thời gian sử dụng đất) vẫn là rào cản chính trong xác lập một tư liệu sản xuất có khả năng tiếp nhận đầu tư  lớn, dài hạn, có chiều sâu của nông dân vào phát triển kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Khu dân cư thương mại 586 (Hậu Giang) được xây dựng gần 15 năm qua, nhưng đang rơi vào cảnh hoang tàn. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Khu dân cư thương mại 586 (Hậu Giang) được xây dựng gần 15 năm qua, nhưng đang rơi vào cảnh hoang tàn. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Tình trạng vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai diễn ra khá phổ biến. Tình trạng tham nhũng, trục lợi và thất thoát nguồn thu ngân sách liên quan đến đất đai vẫn diễn ra…Nhiều địa phương, đơn vị do lãnh đạo thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý đã để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, tự ý chuyển mục đích sử dụng, không đăng ký biến động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không thực hiện nghiêm các nghĩa vụ tài chính theo quy định. Nhiều nơi dự án đã được nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng, còn để lãng phí, hiệu quả sử dụng thấp.

Việc giao đất, cho thuê đất, kể cả những vị trí có lợi thế, khả năng sinh lợi chủ yếu theo phương thức chỉ định, có trường hợp định giá đất để tính thu nghĩa vụ chưa phù hợp, gây thất thu cho ngân sách. Cơ chế tạo quỹ đất để đấu giá chưa được quan tâm thực hiện. Tình trạng vi phạm chính sách pháp luật về đất đai vẫn diễn ra phổ biến. Khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai rất phức tạp, chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 70%).

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vẫn còn sự chồng chéo, không thống nhất trong quy định của các Luật liên quan (Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu…), có một số nội dung không còn phù hợp với thực tiễn và cũng có những nội dung phát sinh mới mà pháp luật chưa có quy định điều chỉnh nên khó khăn cho khâu tổ chức thi hành.

Hơn nữa, việc tổ chức thi hành pháp luật còn hạn chế, mặc dù pháp luật đã có quy định nhưng không được tổ chức thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng, chưa đầy đủ trong khi công tác thanh tra, kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật chưa thực sự có hiệu quả. Bộ máy tổ chức làm công tác quản lý nhà nước nhiều nơi chưa tương xứng với yêu cầu tổ chức triển khai thi hành pháp luật trên thực tế.

Những vướng mắc trong thực tiễn cần tháo gỡ

Đóng góp ý kiến sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Bùi Duy Cường cho rằng, còn một số nội dung Luật cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, cụ thể như vấn đề về thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp Giấy chứng nhận; bồi thường hỗ trợ tái định cư; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai…

Đáng chú ý, phải kể đến vướng mắc trong việc xác định trường hợp “không vi phạm pháp luật đất đai và trường hợp “có vi phạm pháp luật đất đai” quy định tại các Điều 20, 22, 23 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vì xác định trường hợp “có vi phạm pháp luật đất đai” với trường hợp “không vi phạm pháp luật đất đai” sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với xác định hạn mức (hạn mức giao đất hoặc hạn mức công nhận đất ở); xác định nghĩa vụ tài chính theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

Mặt khác, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Quy định tại các Nghị định của Chính phủ số182/2004/NĐ-CP, số 105/2009/NĐ-CP, số 102/2014/NĐ-CP) chỉ là một trong những trường hợp “có vi phạm pháp luật đất đai”. Do vậy, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn xác định “vi phạm pháp luật đất đai” như thế nào, cụ thể thời điểm xác định vi phạm pháp luật đất đai từ trước khi có Hiến pháp năm 1980 hay sau khi có Hiến pháp năm 1980, từ khi có Luật Đất đai năm 1987, năm 1993, năm 2003 hay từ thời điểm nào; các hành vi vi phạm pháp luật đất đai; cơ quan có trách nhiệm xác định vi phạm (UBND cấp xã hay UBND cấp huyện); căn cứ để xác định vi phạm pháp luật đất đai (các loại tài liệu, sổ sách, bản đồ nào) vì qua các thời kỳ, các hành vi vi phạm pháp luật đất đai khác nhau.

Chỉ ra những vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện Luật Đất đai 2013 tại tỉnh Lạng Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lý Vinh Quang cho biết, hiện có nhiều trường hợp hộ gia đình, cá nhân xin tách thửa đối với đất nông nghiệp có diện tích rất nhỏ, manh mún khi thực hiện tách thửa rất khó khăn trong công tác chỉnh lý biến động và khó quản lý hồ sơ địa chính. Do Luật Đất đai 2013 không quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông nghiệp, vì vậy UBND tỉnh Lạng Sơn đề xuất bổ sung quy định hạn mức tách thửa đối với đất nông nghiệp.

Theo đó, cần có quy định và hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp trước ngày 1/7/2014 với nguồn gốc “Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất”có phải chuyển sang thuê đất với nhà nước hay không?; hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp (trừ đất trồng lúa) có nguồn gốc đất là nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất ghi trên Giấy chứng nhận chưa hết thì có phải chuyển sang thuê với thời hạn còn lại ghi trên Giấy chứng nhận không?…

Đồng thời, cần có quy định cụ thể về các tiêu chí xác định đối tượng trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp, thống nhất sử dụng mẫu đơn nhằm xử lý về đất đai khi chấm dứt hoạt động đối với các loại hình doanh nghiệp tương tự như doanh nghiệp tư nhân. Đề nghị bổ sung vào Khoản 1, Điều 83 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên; bổ sung quy định xử lý nợ đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất sau ngày 15/10/1993, không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1 điều 50 Luật Đất đai 2013 đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng còn nợ tiền sử dụng đất…

Ngoài ra, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong quản lý và khai thác thông tin đất đai, trong hướng dẫn, kiểm tra giám sát việc thực hiện; về quyền lợi và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, khai thác thông tin về đất đai; tuyên truyền, phổ biến áp dụng thực hiện có hiệu quả giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai.

Diệu Thúy/TTXVN

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement
Advertisement

Phong thủy

Ôtô

Tin rao mới nhất

"Đăng nhanh-Bán nhanh"

2 Teen

Xu hướng