Connect with us
dang tin quang cao rao vat

Kiến trúc

Hạ tầng kỹ thuật nội đô: Quá tải vì nhà cao tầng

(Vnexpress)

Published

on

Đây là một vấn đề được đề cập tại hội thảo quốc tế “Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan với hệ thống hạ tầng đô thị tại các TP lớn ở Việt Nam”, do Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 05/6.

Quá tải

Theo các chuyên gia, việc các tòa nhà cao tầng hiện diện trong lòng đô thị Việt Nam như hiện nay là một sự tất yếu của quá trình đô thị hóa và phát triển hội nhập với toàn cầu. Các dự án nhà cao tầng đã đóng góp vào việc làm thay đổi bộ mặt kiến trúc đô thị, tạo nên sắc thái mới của sự phát triển.

Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam Trần Ngọc Chính nhận định: Phát triển các công trình cao tầng, nhất là các công trình cao tầng đa năng có thể làm giảm sự dịch chuyển và khoảng cách giữa các khu vực chức năng trong đô thị; làm giảm thiểu sử dụng đất đai, đồng thời tăng giá trị sử dụng đất đai. Đây là một trong những chỉ tiêu của đô thị phát triển bền vững. Kinh nghiệm quốc tế còn cho thấy việc phát triển các công trình cao tầng phù hợp với chiến lược phát triển đô thị là một trong các giải pháp khai thác hiệu quả không gian đô thị…

Song trên thực tế, tại Việt Nam, thời gian qua các dự án nhà cao tầng thường được tập trung phát triển tại các khu vực đô thị hiện hữu vì đây là khu vực có giá trị kinh doanh cao và khá thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

Không phủ nhận việc xây dựng xen cấy các dự án nhà cao tầng tại khu vực này mang lại những kết quả bước đầu như nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị đầu tư, bổ sung quỹ nhà ở, văn phòng, khách sạn, khu vui chơi, giải trí, thương mại, dịch vụ…, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo động lực phát triển khu vực lân cận. Tuy nhiên, theo nhận định của PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến – nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng), việc xây dựng nhiều nhà cao tầng trong nội đô cũng đặt ra nhiều vấn đề bất cập, không lường trước được. Đó là đô thị thiếu đồng bộ về cảnh quan kiến trúc. Cấu trúc đô thị trung tâm và quy hoạch đô thị bị phá vỡ. Hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhất là giao thông bị quá tải.

Ông Tiến phân tích: Hạ tầng kỹ thuật trong các khu vực nội đô cơ bản ổn định, chỉ đáp ứng vừa đủ cho quy mô đô thị hiện hữu, khả năng nâng cấp hạ tầng kỹ thuật rất hạn chế. Việc xây dựng nhà cao tầng xen cấy vào khu vực nội đô, trên cơ sở hạ tầng hiện hữu, với mật độ cao, diện tích sàn tăng lên, số người tập trung lớn… sẽ trở thành một gánh nặng thật sự, gây nên sự quá tải đến hạ tầng kỹ thuật.

Cụ thể, tại các khu vực cao tầng nội đô, nhu cầu đi lại gia tăng, phương tiện giao thông, nhất là phương tiện giao thông cá nhân tăng theo, trong khi đó khu vực này lại thiếu bãi đỗ xe, thiếu sự kết nối với mạng lưới đường khu vực xung quanh, với giao thông công cộng, khiến cho tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng trở nên trầm trọng.

Hệ thống cung cấp nước sạch do được xây dựng lâu đời, nay không đủ năng lực cấp nước cho nhà cao tầng, dẫn đến tình trạng tại nhiều khu vực nước sạch không được cung cấp đủ về lượng, về áp lực, chất lượng nước không bảo đảm.

Tương tự, hệ thống thoát nước do kết nối mạng lưới giữa khu đô thị mới và khu đô thị cũ không đồng bộ, hoạt động kém hiệu quả, rất dễ gây úng cục bộ. Lượng rác thải gia tăng, trong khi lại khó xác định vị trí tập kết rác…, khiến cho việc thu gom, vận chuyển rác nhiều khó khăn, gây nguy cơ mất vệ sinh, ảnh hưởng đến môi trường.

Hơn nữa, các khu vực nhà cao tầng còn có nguy cơ mất an toàn trong phòng cháy và làm gia tăng ô nhiễm môi trường không khí. Bởi các tòa nhà cao tầng là nơi tiêu thụ năng lượng khổng lồ. Chúng tham gia vào việc phát thải khí CO2 ra môi trường và gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị, làm bề mặt trái đất nóng lên…

Dừng lại việc xây nhà cao tầng không đúng quy hoạch

Thống nhất quan điểm nhà cao tầng là một thành phần không thể thiếu được trong các TP hiện đại. Vì vậy, tại hội thảo, các chuyên gia đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm cải thiện sự tác động “không lường trước” như đề cập ở trên của các dự án nhà cao tầng đến hạ tầng kỹ thuật đô thị.

PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến cho rằng việc phát triển nhà cao tầng trong khu vực đô thị hiện hữu phải được thực hiện nghiêm túc theo quy hoạch, và thiết kế đô thị được duyệt. Về nguyên tắc, quy hoạch xây dựng đã phải đồng bộ, trong đó có đầy đủ các quy định về mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất và tầng cao công trình. Mặt khác, quy hoạch cũng phải xác định các chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật, việc kết nối hạ tầng với khu vực xung quanh, bảo đảm cung cấp các dịch vụ thiết yếu như giao thông, cấp và thoát nước… “Việc cấp phép không đúng quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch cục bộ chạy theo dự án không đúng đều phải bị nghiêm cấm” – ông Tiến thẳng thắn.

Cũng theo ông Tiến, trong trường hợp quy hoạch hoặc thiết kế đô thị chưa được lập hoặc chưa được phê duyệt, thì khi xem xét phê duyệt dự án nhà cao tầng cần phải trả lời các câu hỏi: Xây dựng nhà cao tầng ảnh hưởng như thế nào tới kiến trúc cảnh quan, bảo tồn của khu vực, khu vực xung quanh và toàn TP? Xây dựng nhà cao tầng ảnh hưởng hoặc tăng sức ép lên kết cấu hạ tầng kỹ thuật của khu vực như thế nào? Nếu không trả lời được thì cần phải xem xét sự tồn tại của dự án.

Cũng đề cao giải pháp quy hoạch, GS.TS Nguyễn Tố Lăng – nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cho rằng cơ cấu nhà cao tầng phải phù hợp với cơ cấu quy hoạch chung của từng khu vực đô thị, của toàn TP. Cần lựa chọn những khu vực thích hợp trong TP cho việc xây dựng tập trung cao tầng và phải coi khu vực có nhà cao tầng làm điểm nhấn cho không gian đô thị. Không xây dựng cao tầng tràn lan.

GS.TS Nguyễn Tố Lăng cũng cho rằng công tác lập quy hoạch cần đề ra được các mục tiêu cơ bản nhằm tổ chức không gian chặt chẽ. Mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất cần được quan tâm, tránh tình trạng quá tải về hạ tầng kỹ thuật đô thị.

Tại hội thảo, các chuyên gia cũng đề cập đến một số giải pháp khác. Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, bên cạnh việc việc quản lý phát triển các dự án nhà cao tầng tuân thủ quy hoạch được duyệt, chính quyền đô thị cũng phải tiến hành đồng bộ việc cải tạo đô thị, tùy theo từng ô phố, tuyến phố. Song song với việc xây dựng các công trình nhà cao tầng, việc đầu tư xây dựng và cải tạo các công trình hạ tầng kỹ thuật phải được đặc biệt quan tâm.

Ông Tiến đặc biệt nhấn mạnh việc sớm thể chế hóa, ban hành các văn bản hướng dẫn việc đánh giá tác động chịu tải của nhà cao tầng tại các khu vực đô thị cũ, đô thị cải tạo, xen cấy… lên hạ tầng kỹ thuật, nhất là hệ thống giao thông. Hiện nay, Việt Nam chưa có các quy định cụ thể về vấn đề này nên cũng chưa có chế tài xử lý.

Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam Trần Ngọc Chính cũng cho rằng cần phải có chính sách bắt buộc chủ đầu tư muốn xây dựng cao tầng phải cam kết cải tạo hạ tầng giao thông TP. Từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý đầu tư, xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng đất đối với các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị, nhất là nhà ở cao tầng. Ưu tiên các công trình lợi ích công cộng như cây xanh, bãi đỗ xe, công viên, khuyến khích áp dụng công nghệ cao trong xây dựng, quản lý xây dựng, phát triển đô thị, nâng cao đời sống của người dân đô thị theo hướng văn minh, hiện đại.

Hòa Bình/BXD

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement dang tin quang cao rao vat
Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Kiến trúc

Lợi ích từ đầu tư công trình xanh

(Vnexpress)

Published

on

Ông Nguyễn Trung Kiên – Giám đốc Cty CP Đầu tư và Xây dựng (VILANDCO), chuyên gia tư vấn thiết kế công trình xanh tin tưởng, người dân sẵn sàng bỏ tiền mua căn hộ đạt chuẩn công trình xanh với giá cao hơn mức giá căn hộ thông thường nếu hiểu được hiệu quả mà công trình xanh mang lại.

170729baoxaydung_40
– Ở đây, đúng hơn cần dùng từ “lợi ích” thay cho “nguyên nhân”. Có rất nhiều lợi ích khi chủ đầu tư thực hiện dự án của mình đạt tiêu chuẩn công trình xanh. Trong điều kiện Việt Nam, những lợi ích cụ thể như: Một là hiệu quả vận hành công trình. Theo thống kê, trung bình cứ một công trình xanh có thể tiết kiệm khoảng 30% điện năng, tiết kiệm 30 – 50% lượng nước sinh hoạt. Ngoài ra còn giúp bảo vệ môi trường do giảm được từ 50 – 90% rác thải ra môi trường và giảm 35% phát thải carbon. Với các chủ đầu tư trực tiếp vận hành công trình như: Trụ sở văn phòng, trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, nhà máy, việc tiết kiệm này sẽ là lợi ích trực tiếp đối với họ.Thưa ông, rõ ràng, vấn đề hiệu quả đầu tư luôn được đặt lên hàng đầu khi một chủ đầu tư đưa ra ý tưởng đầu tư xây dựng dự án. Vậy thì, theo ông, nguyên nhân nào thuyết phục chủ đầu tư phát triển dự án theo hướng “công trình xanh”?

Thứ hai, nâng cao chất lượng sống và môi trường làm việc bên trong công trình. Công trình xanh trong quá trình thiết kế, thi công và vận hành đều có kiểm soát chặt chẽ về chất lượng môi trường bên trong công trình như là chất lượng không khí, tiện nghi nhiệt, tiện nghi chiếu sáng, tiếng ồn… Đặc biệt, công trình xanh chú trọng việc tận dụng các điều kiện tự nhiên (chiếu sáng tự nhiên, thông gió tự nhiên…), có lợi cho sức khỏe của người sử dụng lại giúp tiết kiệm năng lượng trong quá trình vận hành công trình.

Thứ ba, là 1 công cụ marketing cho các chủ đầu tư BĐS. Nắm bắt được tâm lý và xu hướng xanh, sạch của người dân, một số chủ đầu tư quan tâm đến công trình xanh để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình nhằm nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường.

Thứ tư, công trình xanh là công cụ giúp nâng cao hình ảnh thương hiệu của tổ chức. Đối với các tổ chức có những cam kết với cộng đồng và bảo vệ môi trường, việc thực hiện dự án công trình xanh là cách tốt nhất để thể hiện cam kết của họ. Qua đó sẽ giúp mọi người nhìn nhận được sự đóng góp của họ.

Việc đầu tư phát triển công trình xanh so với một công trình thông thường có làm tốn kém chi phí hơn cho chủ đầu tư không? Thời gian hoàn vốn có bị kéo dài hơn không?

– Theo thống kê của Hội đồng công trình xanh thế giới, xây dựng công trình xanh có thể không phát sinh chi phí hoặc có thể tăng tối đa 10% chi phí so với công trình thông thường, tùy theo từng dự án cụ thể. Ở Việt Nam, chưa có nhiều công trình xanh để sử dụng cho việc phân tích và thống kê. Nhưng, những đánh giá sơ bộ của Hội đồng công trình xanh Việt Nam cơ bản cũng theo xu thế này. Việc phát sinh thêm chi phí có thể xuất phát từ các vấn đề: Thứ nhất, cấp độ chứng nhận công trình xanh. Đối với mức thấp của chứng nhận công trình xanh (chứng nhận, bạc), thường không phát sinh chi phí hoặc nếu có thì rất ít 1 – 2%, do các dự án hiện nay đa phần đã tiệm cận được ở mức này, như việc sử dụng tường gạch không nung, kính Low-e, đèn Led, điều hòa VRV… có thể phát sinh từ 3 – 5% chi phí đối với mức chứng nhận vàng và từ 5 – 10% chi phí với mức bạch kim (mức cao nhất). Thời gian hoàn vốn cho các giải pháp áp dụng theo chuẩn của công trình xanh theo thống kê trung bình là từ 3 – 8 năm.

Thứ hai, thời điểm dự án áp dụng theo quy trình công trình xanh. Nếu chủ đầu tư quan tâm tới việc thực hiện dự án theo chuẩn công trình xanh, cần thực hiện ngay từ bước thiết kế ý tưởng hoặc thậm chí sớm hơn để đảm bảo tất cả các mục tiêu đều đáp ứng yêu cầu đối với công trình xanh được thiết lập ngay từ thời điểm sớm nhất có thể, do đó các bên tham gia đều nắm rõ và có những tính toán tối ưu cho việc thực hiện các mục tiêu.

Một vấn đề nữa là giải pháp thiết kế kiến trúc nếu được thực hiện một cách hiệu quả theo hướng thiết kế thụ động, sẽ giúp giảm chi phí đầu tư đáng kể cho các hệ thống kỹ thuật MEP của công trình. Trong trường hợp ngược lại, nếu thiết kế không tốt sẽ làm tăng chi phí đầu tư do phải sử dụng điều hòa công suất lớn hơn, thường xuyên hơn hay là sử dụng điện nhiều hơn cho chiếu sáng và thông gió…

Thứ ba, năng lực đáp ứng của thị trường. Với những thị trường mới phát triển như Việt Nam, các vật liệu và thiết bị tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường chưa thực sự phổ biến và giá thành khá cao do phải nhập khẩu từ nước ngoài…

Trân trọng cảm ơn ông!

Thanh Nga (thực hiện)

 

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh

(Vnexpress)

Published

on

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) tỉnh Bắc Ninh.



Ảnh minh họa (nguồn: bacninh.gov.vn)

Theo quy hoạch, đến năm 2020 tỉnh Bắc Ninh có 38.505 ha đất nông nghiệp, chiếm 46,8% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh; đất phi nông nghiệp là 43.766 ha, chiếm 53,2%.

Đối với các khu chức năng, đến năm 2020, khu sản xuất nông nghiệp có 37.612 ha đất; khu lâm nghiệp 571 ha; khu phát triển công nghiệp 7.037 ha; khu đô thị 12.167 ha; khu thương mại – dịch vụ có 429 ha; khu dân cư nông thôn có 13.448 ha.

Từ 2016-2020, 11.264 ha đất nông nghiệp được chuyển sang phi nông nghiệp; 105 ha đất phi nông nghiệp không phải là đất ở chuyển sang đất ở.

Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) của tỉnh Bắc Ninh, trong đó rà soát điều chỉnh quy hoạch của các ngành, lĩnh vực, các địa phương trong tỉnh có sử dụng đất cho thống nhất với điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) của Tỉnh; việc tổ chức thực hiện điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thống nhất chặt chẽ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt; điều tiết phân bổ nguồn lực, trước hết là nguồn ngân sách nhà nước bảo đảm lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực giữ nhiều đất trồng lúa; có chính sách, biện pháp phù hợp để giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập, để người trồng lúa yên tâm sản xuất; tăng đầu tư hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các khu vực.

UBND tỉnh Bắc Ninh quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng đất để tập trung cho phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển dịch vụ, đô thị để tăng nguồn thu cho ngân sách; đẩy mạnh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng bỏ hoang đất đã giao và cho thuê; tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ quỹ đất được quy hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả quỹ đất, khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu sử dụng đất giữa đất ở với đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các yêu cầu về bảo vệ môi trường…

Theo Phương Nhi/Baochinhphu.vn

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Cách phân biệt phong cách nội thất hiện đại và đương đại

(Vnexpress)

Published

on

Nhiều người vẫn còn đang nhầm lẫn hay chưa phân biệt được sự khác biệt giữa phong cách nội thất hiện đại và đương đại. Hãy theo dõi một số phân tích dưới đây phần nào sẽ giúp bạn chọn đươc phong cách thiết kế nội thất phù hợp cho ngôi nhà của mình.

Theo lịch sử kiến trúc thế giới, phong cách hiện đại xuất hiện từ những năm 1920 – 1950, đến nay vẫn không thay đổi về cách vận dụng trong kiến trúc, nội thất. Trong khi đó, phong cách đương đại lại luôn có sự thay đổi ít nhiều theo thời gian phù hợp với thực tế cuộc sống. Dưới đây là một số điểm khác biệt giữa hai phong cách này:

Nếu phong cách hiện đại sử dụng gỗ và chất liệu hướng mộc thì phong cách đương đại phức tạp hơn vì sử dụng một số chất liệu nội thất độc đáo như kính, kim loại, đá để kết hợp với nhau.

Phòng khách phong cách nội thất hiện đại

Phòng khách phong cách nội thất đương đại

Về màu sắc, phong cách đương đại thường sử dụng bộ tông màu đen, trắng, xám còn phong cách hiện đại thì đa dạng hơn và phối thêm các gam màu phụ nổi bật hơn.

Màu sắc trong phòng khách phong cách nội thất hiện đại

Màu sắc trong phòng bếp phong cách nội thất hiện đại

Về kết cấu, mảng trang trí – Nhìn chung cả hai phong cách đều khá tương đồng về kết cấu và cách trang trí, chúng được phối hợp hài hòa mang đến không gian đẹp trong tối giản.

Kết cấu và trang trí phong cách nội thất đương đại

Kết cấu và trang trí phong cách nội thất đương đại

Cuối cùng, cả hai đều được đánh giá là tạo nên không gian thông thoáng, sang trọng giống như khi bạn bước vào phòng khách như bên dưới được thiết kế theo kiểu Scandinavia.

Phòng khách phong cách nội thất hiện đại

Phòng khách phong cách nội thất đương đại

Phòng khách phong cách nội thất đương đại

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement
Advertisement

Phong thủy

Ôtô

Tin rao mới nhất

"Đăng nhanh-Bán nhanh"

2 Teen

Xu hướng