Connect with us
Mo gian hang truc tuyen

Kiến trúc

10 việc cần làm ngay để bảo tồn kịp thời Dinh Thượng Thơ

(Vnexpress)

Published

on

Ngày 28/9, Sở Quy hoạch-kiến trúc (QH-KT) TP HCM tổ chức hội thảo “Đánh giá về giá trị và giải pháp bảo tồn kiến trúc tại địa điểm số 59-61 đường Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, quận 1” (Dinh Thượng Thơ)

Dự hội thảo có Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam Nguyễn Tấn Vạn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư TP HCM Nguyễn Trường Lưu…, cùng lãnh đạo Sở QH-KT.

10 việc cần làm ngay để bảo tồn kịp thời Dinh Thượng Thơ - Ảnh 1.

Toàn cảnh hội thảo

Nói về các giá trị lịch sử của Dinh Thượng Thơ, chuyên gia sử học Trần Hữu Phước Tiến cho hay qua nghiên cứu các bản đồ cổ và sách sử, nền đất Dinh Thượng Thơ là một dấu tích quan trọng của Thành Gia Định và là dấu tích tiêu biểu của thời kỳ người Việt mới bắt đầu khai phá, thành lập Sài Gòn.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, vào mùa Xuân 1790, Chúa Nguyễn Ánh cho xây Thành Gia Định tại vùng đất cao thuộc địa phận làng Tân Khải-một trong 40 ngôi làng đầu tiên của người Việt trên đất Sài Gòn. Vùng đất cao này khi người Pháp vào gọi là Plateau de la Citadelle – Đồi Thành Lũy…

10 việc cần làm ngay để bảo tồn kịp thời Dinh Thượng Thơ - Ảnh 2.

Từ 1864 đến 1888, ngoài việc điều hành toàn Nam Kỳ, Dinh Thượng Thơ còn là cơ quan hành chính điều hành trực tiếp Sài Gòn-Chợ Lớn trong 24 năm. Nói cách khác, Dinh Thượng Thơ là “tòa thị chính”, Ủy ban Hành chính đầu tiên của đô thị Sài Gòn-Chợ Lớn.

Từ 1945-1955, tòa nhà Dinh Thượng Thơ, có lúc là Dinh Thủ Hiến Nam Việt, rồi Tòa đại biểu chính phủ tại Việt Nam của Quốc gia Việt Nam-Bảo Đại. Từ tháng 10-1955-4-1975, Dinh Thượng Thơ chuyển thành trụ sở của Bộ Kinh tế. Sau tháng 4-1975 đến nay, tòa nhà này không còn là trụ sở của các cơ quan trung ương mà chuyển về cho UBND TPHCM lần lượt làm trụ sở của nhiều cơ quan quản lý kinh tế.

10 việc cần làm ngay để bảo tồn kịp thời Dinh Thượng Thơ - Ảnh 3.

Đến nay, xuyên qua ba thế kỷ, tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ thực hiện chức năng là công thự hành chính ở cấp trung ương cũng như địa phương. Có lẽ hiện giờ, ngoài trụ sở UBND TP và Tòa án TP, trên địa bàn TP rất hiếm có một công thự nào còn nguyên vẹn như ban đầu mà chức năng sử dụng không thay đổi như tòa nhà Dinh Thượng Thơ. “Bản thân tòa nhà rất xứng đáng được coi là di tích lịch sử, là cột mốc vàng- mở đầu lịch sử quản trị hành chính đô thị cũng như quản trị hành chính quốc gia của Việt Nam trong thời kỳ hiện đại” –  ông Tiến nói.

Từ đó, ông Tiến đề xuất thực hiện 10 việc cần làm để bảo tồn kịp thời và phát huy giá trị lâu dài của Dinh Thượng Thơ.

Đầu tiên, kiểm tra, khảo sát, lập hồ sơ di sản lịch sử-văn hóa-kiến trúc cấp thành phố và cấp quốc gia. Giữ nguyên trạng tòa nhà, không phá bỏ hay xây sửa. Tiến hành khảo sát toàn bộ kiến trúc, tầng hầm. Tiến hành thám sát, đào khảo cổ phần sân liên quan các công thự từ số 59-63 Lý Tự Trọng. Lập phương án trùng tu tòa nhà trong tổng thể các kiến trúc và cảnh quan xưa chung quanh. Lập phương án di dời trụ sở 2i Sở Thông tin – Truyền thông và Sở Công Thương TP ra nơi khác. Lập phương án sử dụng tòa nhà sau khi trùng tu kết hợp đa chức năng. Vận động các chuyên gia, sinh viên sử học, đô thị học, kiến trúc, mỹ thuật, báo chí, kinh doanh, ngoại giao…cùng tham gia đóng góp ý tưởng và phương án tôn tạo và phát huy giá trị tòa nhà. Vận động các nước Pháp và EU hỗ trợ kinh nghiệm giữ gìn và phát huy giá trị các dinh thự hành chính xưa. Vận động xã hội hóa, huy động nhiều nguồn lực, nhiều nguồn kinh phí để trùng tu và phát huy giá trị tòa nhà.

Trường Hoàng – Thu Trang/Người Lao động

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement
Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Kiến trúc

Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013 – Bài 1: Nhìn lại sau gần 4 năm thực hiện “Tổng quan và giải pháp”

(Vnexpress)

Published

on

Thực hiện Luật Đất đai 2013, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị định; các bộ, ngành đã ban hành hơn 40 Thông tư, Thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành Luật, kịp thời hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật Đất đai 2013 tại các tỉnh, thành phố cho thấy, hiện nay nguồn lực về đất đai vẫn chưa thực sự khai thác và phát huy đầy đủ để trở thành nguồn nội lực quan trọng phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội.

Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên? Những vấn đề phát sinh khi thực thi Luật Đất đai của một số địa phương ra sao? Cần sớm tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai thế nào để định hướng đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Bài 1: Luật Đất đai 2013 – Nhìn lại sau gần 4 năm thực hiện

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua đánh dấu bước tiến trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật đất đai. Sau gần 4 năm thi hành Luật Đất đai 2013, công tác quản lý đất đai ở các địa phương trong cả nước đã đạt một số kết quả quan trọng.

TP Hà Nội đang nỗ lực “vạch lá tìm sâu” vi phạm Luật Đất đai, nhằm sớm trả lại nguồn lực cho tăng trưởng. Ảnh: Nguyễn Thắng/TTXVN

TP Hà Nội đang nỗ lực “vạch lá tìm sâu” vi phạm Luật Đất đai, nhằm sớm trả lại nguồn lực cho tăng trưởng. Ảnh: Nguyễn Thắng/TTXVN

Những kết quả quan trọng

Đánh giá tổng quan của  cơ quan có trách nhiệm cho thấy, sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực, nhiều địa phương đã triển khai tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai. Những khó khăn vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật Đất đai giữa Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013 đã được kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ; không để ách tắc gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, Bộ Tài nguyên Môi trường và các địa phương đã quyết liệt đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai đã được tập trung xây dựng…

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Bước đầu, tình trạng giao đất, cho thuê đất tràn lan, không đưa vào sử dụng, lãng phí đã được khắc phục; hạn chế được việc giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tư không có năng lực, tránh được lãng phí trong việc sử dụng đất.

Tại các địa phương, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất “ tùy tiện” làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất. Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi. Chính sách tài chính về đất đai  được hoàn thiện đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách. Những quy định đổi mới về giá đất đã tạo sự chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai bằng biện pháp kinh tế.

Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đã được coi trọng, giảm tối đa các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Việc thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc nộp hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ công việc và giúp đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.

Công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý, sử dụng đất đai được chú trọng. Các địa phương coi trọng việc chỉ đạo, đôn đốc thực hiện và công khai kết quả các kết luận thanh tra, qua đó, đã góp phần phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm luật đất đai và khắc phục nhiều tồn tại, bất cập trong quản lý, sử dụng đất.

Luật Đất đai 2013 có hiệu lực làm thay đổi thị trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng. Giao dịch về quyền sử dụng đất từng bước đi vào nề nếp và ổn định, các đơn vị tư vấn đất được hình thành và hoạt đông ngày càng chuyên nghiệp, hỗ trợ cho thị trường bất động sản. Thị trường quyền sử dụng đất đã góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Đất đai chưa thực sự là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế- xã hội

Bên cạnh một số kết quả tích cực đã đạt được, quá trình thực hiện cho thấy, Luật Đất đai 2013 vẫn còn bộc lộ một số bất cập. Nguồn lực về đất đai vẫn chưa thực sự khai thác và phát huy đầy đủ và bền vững để trở thành nguồn nội lực quan trọng phục vụ  phát triển kinh tế – xã hội. Khó khăn trong tiếp cận đất đai vẫn là một trong những rào cản để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp diễn ra còn chậm, chưa theo kịp nhu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, cho phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng; đất đai manh mún đang là yếu tố cản trở người dân  và doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào nông nghiệp. Hạn điền (hạn mức nhận  chuyển quyền) và thời hạn (hạn mức thời gian sử dụng đất) vẫn là rào cản chính trong xác lập một tư liệu sản xuất có khả năng tiếp nhận đầu tư  lớn, dài hạn, có chiều sâu của nông dân vào phát triển kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Khu dân cư thương mại 586 (Hậu Giang) được xây dựng gần 15 năm qua, nhưng đang rơi vào cảnh hoang tàn. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Khu dân cư thương mại 586 (Hậu Giang) được xây dựng gần 15 năm qua, nhưng đang rơi vào cảnh hoang tàn. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Tình trạng vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai diễn ra khá phổ biến. Tình trạng tham nhũng, trục lợi và thất thoát nguồn thu ngân sách liên quan đến đất đai vẫn diễn ra…Nhiều địa phương, đơn vị do lãnh đạo thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý đã để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, tự ý chuyển mục đích sử dụng, không đăng ký biến động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không thực hiện nghiêm các nghĩa vụ tài chính theo quy định. Nhiều nơi dự án đã được nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng, còn để lãng phí, hiệu quả sử dụng thấp.

Việc giao đất, cho thuê đất, kể cả những vị trí có lợi thế, khả năng sinh lợi chủ yếu theo phương thức chỉ định, có trường hợp định giá đất để tính thu nghĩa vụ chưa phù hợp, gây thất thu cho ngân sách. Cơ chế tạo quỹ đất để đấu giá chưa được quan tâm thực hiện. Tình trạng vi phạm chính sách pháp luật về đất đai vẫn diễn ra phổ biến. Khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai rất phức tạp, chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 70%).

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vẫn còn sự chồng chéo, không thống nhất trong quy định của các Luật liên quan (Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu…), có một số nội dung không còn phù hợp với thực tiễn và cũng có những nội dung phát sinh mới mà pháp luật chưa có quy định điều chỉnh nên khó khăn cho khâu tổ chức thi hành.

Hơn nữa, việc tổ chức thi hành pháp luật còn hạn chế, mặc dù pháp luật đã có quy định nhưng không được tổ chức thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng, chưa đầy đủ trong khi công tác thanh tra, kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật chưa thực sự có hiệu quả. Bộ máy tổ chức làm công tác quản lý nhà nước nhiều nơi chưa tương xứng với yêu cầu tổ chức triển khai thi hành pháp luật trên thực tế.

Những vướng mắc trong thực tiễn cần tháo gỡ

Đóng góp ý kiến sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Bùi Duy Cường cho rằng, còn một số nội dung Luật cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, cụ thể như vấn đề về thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp Giấy chứng nhận; bồi thường hỗ trợ tái định cư; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai…

Đáng chú ý, phải kể đến vướng mắc trong việc xác định trường hợp “không vi phạm pháp luật đất đai và trường hợp “có vi phạm pháp luật đất đai” quy định tại các Điều 20, 22, 23 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vì xác định trường hợp “có vi phạm pháp luật đất đai” với trường hợp “không vi phạm pháp luật đất đai” sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với xác định hạn mức (hạn mức giao đất hoặc hạn mức công nhận đất ở); xác định nghĩa vụ tài chính theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

Mặt khác, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Quy định tại các Nghị định của Chính phủ số182/2004/NĐ-CP, số 105/2009/NĐ-CP, số 102/2014/NĐ-CP) chỉ là một trong những trường hợp “có vi phạm pháp luật đất đai”. Do vậy, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn xác định “vi phạm pháp luật đất đai” như thế nào, cụ thể thời điểm xác định vi phạm pháp luật đất đai từ trước khi có Hiến pháp năm 1980 hay sau khi có Hiến pháp năm 1980, từ khi có Luật Đất đai năm 1987, năm 1993, năm 2003 hay từ thời điểm nào; các hành vi vi phạm pháp luật đất đai; cơ quan có trách nhiệm xác định vi phạm (UBND cấp xã hay UBND cấp huyện); căn cứ để xác định vi phạm pháp luật đất đai (các loại tài liệu, sổ sách, bản đồ nào) vì qua các thời kỳ, các hành vi vi phạm pháp luật đất đai khác nhau.

Chỉ ra những vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện Luật Đất đai 2013 tại tỉnh Lạng Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lý Vinh Quang cho biết, hiện có nhiều trường hợp hộ gia đình, cá nhân xin tách thửa đối với đất nông nghiệp có diện tích rất nhỏ, manh mún khi thực hiện tách thửa rất khó khăn trong công tác chỉnh lý biến động và khó quản lý hồ sơ địa chính. Do Luật Đất đai 2013 không quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông nghiệp, vì vậy UBND tỉnh Lạng Sơn đề xuất bổ sung quy định hạn mức tách thửa đối với đất nông nghiệp.

Theo đó, cần có quy định và hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp trước ngày 1/7/2014 với nguồn gốc “Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất”có phải chuyển sang thuê đất với nhà nước hay không?; hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp (trừ đất trồng lúa) có nguồn gốc đất là nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất ghi trên Giấy chứng nhận chưa hết thì có phải chuyển sang thuê với thời hạn còn lại ghi trên Giấy chứng nhận không?…

Đồng thời, cần có quy định cụ thể về các tiêu chí xác định đối tượng trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp, thống nhất sử dụng mẫu đơn nhằm xử lý về đất đai khi chấm dứt hoạt động đối với các loại hình doanh nghiệp tương tự như doanh nghiệp tư nhân. Đề nghị bổ sung vào Khoản 1, Điều 83 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên; bổ sung quy định xử lý nợ đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất sau ngày 15/10/1993, không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1 điều 50 Luật Đất đai 2013 đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng còn nợ tiền sử dụng đất…

Ngoài ra, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong quản lý và khai thác thông tin đất đai, trong hướng dẫn, kiểm tra giám sát việc thực hiện; về quyền lợi và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, khai thác thông tin về đất đai; tuyên truyền, phổ biến áp dụng thực hiện có hiệu quả giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai.

Diệu Thúy/TTXVN

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Quản lý nhà chung cư: Bao giờ mới hết bất cập?

(Vnexpress)

Published

on

Đánh giá về quản lý chung cư tại Hà Nội, đặc biệt là các khu chung cư thuộc diện tái định cư, nhiều chuyên gia cho rằng về mặt cơ chế và công tác quản lý vẫn chưa thật sự bài bản, khoa học. Mặc dù TP Hà Nội đã có nhiều văn bản chỉ đạo về vấn đề này, nhưng thực tế hiệu quả vẫn chưa cao. Trong khi đó, tranh chấp ngày càng khó khăn hơn và gây nhiều phiền toái hơn cho cả cơ quan quản lý, ban quản trị, cư dân và chủ đầu tư.

Sáu vấn đề lớn

Về thực trạng quản lý nhà chung cư, đối với chung cư thương mại, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 697 (cụm, tòa) nhà chung cư thương mại đã đưa vào sử dụng. Trong đó, trước khi có Luật Nhà ở là 137 nhà chung cư, từ khi có Luật Nhà ở là 560 nhà chung cư. Việc phân loại này là cơ sở để lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật trong đánh giá, xác định nguyên nhân, trách nhiệm và đề ra giải pháp giải quyết vướng mắc, tồn tại phù hợp.

Hiện tại đã có 454/697 nhà chung cư thành lập Ban quản trị. Bên cạnh đó, đối với nhà chung cư tái định cư, tổng số nhà chung cư tái định cư là 168 tòa, trong đó, nhà chung cư xây dựng trước Luật Nhà ở 2005 có 79 tòa nhà; sau Luật Nhà ở 2005 có 89 tòa nhà. Đã có 73/168 tòa nhà chung cư thành lập được Ban quản trị, đạt tỷ lệ 43,6%.

Nhà chung cư đang tăng cả về số lượng và sự mâu thuẫn.

Nhà chung cư đang tăng cả về số lượng và sự mâu thuẫn.

Theo Sở Xây dựng Hà Nội, đến nay có 6 tồn tại chính trong quản lý nhà chung cư hiện nay là: Việc tổ chức Hội nghị nhà chung cư là thủ tục đầu tiên để triển khai các thủ tục quản lý vận hành nhà theo nguyên tắc công khai, dân chủ, nhưng việc triển khai thực hiện còn chậm và kết quả còn hạn chế. Việc bàn giao hồ sơ nhà chung cư còn chậm, chưa đầy đủ gây khó khăn trong công tác quản lý.

Một số chủ đầu tư chậm bàn giao kinh phí bảo trì phần sở hữu chung 2% dẫn đến Ban quản trị nhà chung cư không đủ điều kiện hoạt động, nhiều trường hợp tranh chấp giữa chủ đầu tư và Ban quản trị. Nhiều nhà chung cư còn tồn tại những bất cập trong công tác phòng cháy chữa cháy. Đặc biệt, nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập này là do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vận hành nhà chung cư còn thiếu sự đồng bộ; một số quy định còn thiếu, chưa cụ thể.

Trên thực tế, thành phố Hà Nội đã có rất nhiều văn bản chỉ đạo về công tác quản lý chung cư đã được ban hành. Theo thống kê, trong năm 2017, thành phố đã có 5 văn bản chỉ đạo, năm 2018 tiếp tục ra 6 văn bản chỉ đạo nhưng đến nay hiệu quả vẫn chưa cao, vẫn còn nguyên 6 tồn tại và ngày một tiềm ẩn thêm những vấn đề phức tạp

Quy đầu mối trách nhiệm

Về công tác chấp hành quy định trong quản lý nhà chung cư, theo Trưởng Ban Pháp chế HĐND TP Hà Nội Nguyễn Hoài Nam, chúng ta cần phải có một đơn vị chịu trách nhiệm rõ ràng trong công tác quản lý nhà chung cư, đặc biệt là trách nhiệm của Sở Xây dựng Hà Nội. Đại diện Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân Thành phố cũng nêu rõ, hiện tại không chỉ có 6 tồn tại mà đã có thêm 2 vướng mắc mới nẩy sinh trong quá trình quản lý nhà chung cư và cũng chưa có hướng giải quyết. Thứ nhất, việc bàn giao quỹ bảo trì, trường hợp không bàn giao thì sẽ phải tiến hành cưỡng chế. Việc này đã được quy định rõ trong Thông tư 02 của Bộ Xây dựng, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện.

Bên cạnh đó, thực tế hiện nay cho thấy, tại nhiều chung cư mặc dù đã có Ban quản trị nhưng vẫn tiếp tục phát sinh vấn đề. Cụ thể, nhiều tòa nhà do Ban quản trị không đủ chuyên môn, năng lực nên đã gặp khó trong việc quản lý, hoặc thuê lại đơn vị quản lý tòa nhà. Hướng giải quyết cho trường hợp này như thế nào, người dân phải làm sao… Cuối cùng, đó là trách nhiệm của chính quyền địa phương, khi nảy sinh mâu thuẫn thì địa phương sẽ phải làm “trọng tài” như thế nào? Phân xử ra sao, cấp độ nào giải quyết… thì vẫn chưa có đầu có cuối.

“Vấn đề ở đây là phải làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, của địa phương trong công tác tham mưu với thành phố. Theo đó, trường hợp nào vượt quá thẩm quyền thì có thể kiến nghị thành phố, thậm chí kiến nghị thẳng lên Thường trực UBNDTP Chúng ta không thể mãi tuyên truyền, phổ biến khi mà vấn đề đã bộc lộ hết rồi” – ông Nguyễn Hoài Nam nhấn mạnh.

Được biết, mới đây nhằm tháo gỡ một phần khó khăn trong quản lý nhà chung cư, UBND TP Hà Nội đã có quyết định phê duyệt đề cương nhiệm vụ “Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển, quản lý không gian công cộng tại các dự án nhà ở trên địa bàn TP Hà Nội”. Sau khi đánh giá được hiện trạng sẽ nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển không gian công cộng. Trong đó có định hướng phát triển, quản lý đáp ứng yêu cầu của cộng đồng dân cư; đưa ra giải pháp thúc đẩy trách nhiệm của nhà đầu tư đối với việc xây dựng, quản lý không gian công cộng, tăng cường công tác quản lý và giám sát đối với không gian này.

Tuấn Dũng/Báo Lao động Thủ đô

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading

Kiến trúc

Giá của vốn vay

(Vnexpress)

Published

on

Giá của ODA trở nên quá đắt đỏ và rất khó có thể biện minh được. Ai là người trả giá thật sự cho tình trạng này, nếu không phải những người đóng thuế?

Tranh cãi về việc xây ga tàu điện ngầm C9 cạnh Hồ Gươm một lần nữa lại lên cao trào mà bên nào cũng có những lý lẽ riêng đầy thuyết phục.

Thường thì rất khó có sự thỏa hiệp giữa bảo tồn và phát triển, và việc xây ga tàu điện ngầm C9 cạnh Hồ Gươm hay không không phải là ngoại lệ.

Trong các luồng thông tin đa chiều ngồn ngộn, thật đáng tiếc, dư luận dường như không mấy quan tâm đến những góc ở phía sau của cả dự án đó: dự án đường sắt đô thị tuyến số 2 Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo có ga C9 nói trên.

Dự án này được phê duyệt cuối năm 2008 với tổng vốn gần 20.000 tỷ đồng. Sau 10 năm, khoảng thời gian dài hơn cuộc kháng chiến làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, đến nay nhà ga C9 của dự án đó lại được tranh luận gay gắt trở lại sau nhiều lần tranh cãi và chưa biết đến bao giờ mới kết thúc.

Chỉ có điều, tổng mức đầu tư của cả dự án đội lên gần 52.000 tỷ đồng; và dự kiến nó chỉ được hoàn thành năm 2023, tức chậm tới 7 năm so với kế hoạch.

 Tranh cãi về việc xây ga tàu điện ngầm C9 cạnh Hồ Gươm một lần nữa lại lên cao trào. Ảnh: Báo Lao động

Tranh cãi về việc xây ga tàu điện ngầm C9 cạnh Hồ Gươm một lần nữa lại lên cao trào. Ảnh: Báo Lao động

Lạ một điều, những dự án vay ODA có tình trạng chậm trễ đến mức tê liệt như vậy không phải là hiếm, theo một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đến nay, không một ai dám chắc về tổng vốn đầu tư khi dự án hoàn thành vì còn phải chờ ít nhất 5 năm nữa, và trong quá trình đó sẽ còn phát sinh nhiều thủ tục, chẳng hạn phải chờ Quốc hội phê duyệt phần đội vốn hàng chục ngàn tỷ đồng.

Ví dụ, dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị TPHCM tuyến 1, đoạn Bến Thành – Suối Tiên có vốn đầu tư tăng từ hơn 17.000 tỷ đồng lên trên 47.000 tỷ đồng.

Dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 TPHCM tuyến Bến Thành – Tham Lương bị đội vốn đầu tư  mức hơn 26.000 tỷ đồng lên gần 48.000 tỷ đồng.

Dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị TP Hà Nội tuyến Cát Linh – Hà Đông tăng từ gần 8.700 tỷ đồng lên hơn 18.000 tỷ đồng.

Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị thí điểm TP Hà Nội đoạn Nhổn – ga Hà Nội tăng tổng mức đầu tư từ 783 triệu Euro lên gần 1.200 triệu Euro, tức đội vốn lên gần 10.400 tỷ đồng.

Tổng số vốn đội lên của các dự án nêu trên vượt quá 5 tỷ đô la Mỹ và vượt gấp nhiều lần số vốn dự toán ban đầu.

Với tư cách là phóng viên, tôi đã tìm hiểu và tiếp cận hầu hết các nguyên nhân tăng tổng mức đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Về việc kéo dài thời gian bàn giao mặt bằng; Về biến động giá của nguyên, nhiên vật liệu; Về tăng khối lượng xây dựng; Về năng lực của tư vấn kém; vân vân và vân vân.

Nhưng nói thật, các nguyên nhân đó không thuyết phục. Thì tất cả các nguyên nhân đó, và hơn nữa, đã từng được đưa ra để lập luận, giải thích cho tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn ODA kể từ khi nguồn vốn này chính thức được nối lại những năm đầu 1990.

Trong suốt hơn 1/4 thế kỷ vay nợ, học bao nhiêu kỹ năng quản lý, được hỗ trợ kỹ thuật, tìm được bao nhiêu nguyên nhân để đổ lỗi mà không rút ra được gì để đến nay các dự án ODA vẫn kéo dài và đội vốn ghê gớm như vậy?

Chẳng hạn, tỷ lệ giải ngân vốn vay của World Bank chỉ đạt dưới 20% trong giai đoạn 2000-2014, theo một báo cáo chung cách đây 2 năm của nhóm 6 ngân hàng là Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng KEXIM (Hàn Quốc), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Ngân hàng Tái thiết Đức (KFW) .

Trước thực trạng giải ngân rất chậm trễ, nhóm 6 ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế là những nhà cho vay lớn nhất nêu trên đã cùng phát đi một cảnh báo chung tình trạng tăng chi phí, không tận dụng được ích lợi của dự án mà họ tài trợ.

Tính trung bình, nếu dự án chậm trễ 2-3 năm sẽ làm tăng chi phí lên đến 50% do phát sinh thâm hụt tài chính.

Vậy mà, theo nhóm 6 ngân hàng này, một dự án ODA của Việt Nam lúc đó trung bình phải mất 5 năm mới giải ngân được.

Đây là một cảnh báo rất nghiêm trọng. Nó cho thấy, tính bình quân, một dự án ODA của Việt Nam sau 5 năm đã đắt gấp đối so với dự toán ban đầu. Hay nói cách khác, Việt Nam đã mất đi một con đường, một cây cầu có trị giá đúng bằng con đường, cây cầu đó nếu xây dựng chậm tiến độ mất 5 năm.

Cảnh báo đó, tiếc thay, đã trở nên hiện thực rõ ràng, sinh động và không thể chối bỏ khi soi vào những dự án đội gấp hai, gấp ba lần.

Chẳng hạn, với thời gian thực hiện lên đến 15 năm, lẽ ra chúng ta có thể có mấy tuyến đường sắt đô thị tuyến số 2 Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo có ga C9.

Cái giá của ODA trở nên quá đắt đỏ và rất khó có thể biện minh được. Ai là người trả giá thật sự cho tình trạng này, nếu không phải những người đóng thuế?

Tư Giang/Vietnamnet

By (kientrucvietnam.org.vn)

Continue Reading
Advertisement
Advertisement

Phong thủy

Ôtô

Tin rao mới nhất

"Đăng nhanh-Bán nhanh"

2 Teen

Xu hướng